Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Chỉ xử lý 40% tờ khai khi áp dụng thông quan tự động

Hệ thống thông quan hàng hóa tự động (VNACCS/VICS) sẽ chính thức được vận hành vào tháng 4/2014.

Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, việc vận hành hệ thống góp phần thay đổi lớn về thủ tục cũng như tổ chức thực hiện nghiệp vụ.

Cụ thể, việc vận hành hệ thống dự kiến giảm tải vấn đề xử lý tờ khai trực tiếp của cán bộ hải quan. Theo đó, công chức hải quan xử lý khoảng 40% số tờ khai so với hiện tại.

Lý do của việc giảm tải trên do hệ thống này sẽ xử lý hoàn toàn tự động từ việc tiếp nhận cho đến phân luồng với thời gian diễn ra rất nhanh khoảng 3 giây. Bên cạnh đó, với hệ thống VNACCS/VCIS, doanh nghiệp được phép khai bổ sung sau khi thông quan.

Theo đó, nếu hải quan phát hiện sai sót trong nội dung khai báo thì thông báo tới doanh nghiệp biết để hiệu chỉnh và bổ sung. Nếu người khai không chấp nhận khai bổ sung sẽ vẫn cho thông quan nhưng những nghi vấn sẽ được thông báo tới bộ phận kiểm tra sau thông quan và điều tra.

Khi đó, doanh nghiệp thực hiện thủ tục nộp thuế tăng thêm trên VNACCS/VCIS. Tuy nhiên, việc xử lý tiền thuế nộp thừa không thực hiện trên VNACCS.

Đặc biệt, đối với việc sử dụng hệ thống VNACCS/VCIS, quá trình phân công xử lý tờ khai, chỉ đạo thực hiện và kết quả xử lý của lãnh đạo và chuyên viên đều được hệ thống lưu vết tự động. Chức năng của hệ thống giúp kiểm soát được quá trình xử lý công việc của cán bộ, công chức hải quan.

Trên cơ sở các tiêu chí rủi ro (tiêu chí lựa chọn) được thiết lập trên Hệ thống VCIS, Hệ thống VNACCS sẽ thực hiện phân luồng xử lý tờ khai, thông qua việc đối chiếu những thông tin khai báo trên tờ khai với những thông tin của tiêu chí lựa chọn.

Ngoài việc thiết lập các tiêu chí đơn lẻ trên giao diện của VCIS, trường hợp thiết lập số lượng lớn tiêu chí sẽ được thiết lập thông qua bảng dữ liệu (CFS).

Để đảm bảo tốc độ xử lý nhanh của hệ thống, chỉ một số tiêu chí trong trường hợp cần thiết mới được truyền dữ liệu tức thời từ VCIS sang VNACCS phục vụ cho việc phân luồng tờ khai.

Tiêu chí lựa chọn được xây dựng dựa trên cơ sở các chính sách quy định của các cơ quan quản lý nhà nước, dựa trên việc xếp hạng đánh giá doanh nghiệp cũng như phân tích, đánh giá rủi ro của đơn vị chuyên trách quản lý rủi ro.

Trong đó, hệ thống được thiết kế để tự động lựa chọn kiểm tra các đối tượng không đáp ứng các điều kiện cấp phép trên cơ sở trao đổi dữ liệu điện tử với các bộ, ngành khi triển khai cơ chế một cửa.

Các tờ khai luồng xanh không còn được hiển thị trên màn hình kiểm tra tại cửa khẩu, công chức hải quan chỉ có thể xử lý hoặc chuyển luồng các tờ khai luồng vàng và luồng đỏ./.

17 nhiệm vụ trọng tâm năm 2013 của dự án VNACCS/VCIS

17 nhiệm vụ trọng tâm năm 2013 của dự án VNACCS/VCIS


1. Hoàn thiện thiết kế chi tiết phần mềm đầu cuối; thiết kế chi tiết cơ chế một cửa; thiết kế kỹ thuật EDI.
2. Xây dựng nghiệp vụ sổ tay hướng dẫn sử dụng hệ thống.
3. Đào tạo, tập huấn người sử dụng.
4. Xây dựng các bảng dữ liệu tập trung (CFS).
5. Hoàn thiện cơ sở pháp lý.
6. Hình thành bộ máy quản lý, vận hành hệ thống.
7. Rà soát và kiến nghị sắp xếp lại dây chuyền thông quan phù hợp với hệ thống VNACCS/VCIS.
8. Tiến hành đăng ký người sử dụng.
9. Thành lập bộ phận hỗ trợ giải đáp.
10. Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin.
11. Thiết lập môi trường vận hành bên trong trung tâm dữ liệu.
12. Tích hợp hệ thống.
13. Chuyển đổi dữ liệu sang hệ thống VNACCS/VCIS.
14. Kiểm tra hệ thống.
15. Chạy thử hệ thống.
16. Vận hành chính thức hệ thống.
17. Tổ chức tuyên truyền tới các đối tượng mục tiêu.

Tổng kết hoạt động năm 2012 dự án VNACCS/VICS

Ngày 5/2/2013, Tổng cục Hải quan đã tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013 của dự án “Xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện cơ chế hải quan một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa Hải quan tại Việt Nam” (VNACCS/VCIS).

VNACCS/VCIS là dự án hợp tác song phương lớn nhất từ trước đến nay của ngành Hải quan xét về quy mô, tổng vốn đầu tư, mức độ phức tạp về kỹ thuật cũng như số lượng cán bộ được huy động tham gia. Dự án có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, bao gồm tất cả các cục hải quan tỉnh, thành phố, cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các bộ, ngành tham gia cơ chế một cửa hải quan và các bên liên quan khác như ngân hàng, hãng vận tải, giao nhận…
Tại hội nghị, ông Nguyễn Mạnh Tùng – Phó trưởng ban thường trực ban triển khai dự án, Phó giám đốc thường trực ban quản lý dự án đã nêu lên thực trạng “Áp lực thực hiện dự án là rất lớn vì thời gian xây dựng và đưa hệ thống vào hoạt động chỉ khoảng 2 năm, trong khi đó khối lượng công việc cần xử lý lớn, từ khâu thiết kế, phát triển hệ thống đến chuẩn bị môi trường để đưa hệ thống vào vận hành”.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Mạnh Tùng cũng khẳng định: “Cùng với sự hỗ trợ và hợp tác toàn diện, tích cực của Hải quan Nhật Bản, sự chỉ đạo và quan tâm đặc biệt của lãnh đạo các cấp và quyết tâm cao của đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp tham gia triển khai, dự án đã đạt nhiều thành quả đáng khích lệ”.
                                                                                    
Phó trưởng ban thường trực Ban triển khai dự án, ông Nguyễn Mạnh Tùng trình bày báo cáo kết quả hoạt động của dự án VNACCS/VCIS
Về tiến độ, đến hết năm 2012, hầu hết các hạng mục quan trọng của dự án đã được triển khai đúng tiến độ, đã hoàn thành xong thiết kế sơ bộ và chi tiết hệ thống VNACCS, VCIS, phần mềm đầu cuối,…
Thông qua thực hiện dự án, Tổng cục Hải quan có cơ hội tiếp cận với phương thức quản lý, tổ chức công việc tiên tiến, hiện đại. Các cán bộ công chức có điều kiện học hỏi kỹ năng và phương pháp làm việc từ chuyên gia Nhật Bản, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.
Về mặt thể chế và pháp luật, dự án là động lực thúc đẩy từng bước hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật. Đã xác định được nhiều nội dung cần đưa vào sửa luật và các quy định pháp lý liên quan nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp quản lý mới theo VNACCS.
Dự án cũng đã chỉ ra sự cần thiết và yêu cầu nâng cấp các hệ thống công nghệ thông tin, đường truyền… hiện có của Hải quan Việt Nam để có thể kết nối với hệ thống VNACCS/VCIS.
Tới dự hội nghị, Tổng cục trưởng TCHQ Nguyễn Ngọc Túc ghi nhận nỗ lực của toàn thể cán bộ công chức Hải quan Việt Nam. Tổng cục trưởng khẳng định lại một lần nữa quyết tâm cao của đội ngũ lãnh đạo cũng như toàn ngành Hải quan trong việc triển khai và tiến tới làm chủ hệ thống quản lý hiện đại này trong thời gian tới.
Tại hội nghị, các trưởng nhóm dự án cũng lần lượt trình bày tham luận về những thay đổi trong quy trình thủ tục hải quan, thay đổi về mặt công nghệ thông tin, thay đổi về quản lý rủi ro khi áp dụng hệ thống VNACCS/VCIS và kế hoạch đào tạo cho người sử dụng hệ thống này.
 ( Theo Website HQvietnam)

Hệ thống thông quan VNACCS/VCIS dần hoàn thiện

Chiều 5-2, tại Hà Nội, Ban Quản lí Dự án Hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS), Tổng cục Hải quan tổ chức tổng kết công tác năm 2012 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2013. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc; Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Vũ Ngọc Anh- kiêm Giám đốc Dự án tới dự và chỉ đạo Hội nghị.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, thay mặt lãnh đạo Tổng cục Hải quan, Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc biểu dương và đánh giá cao sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ chuyên gia Hải quan Nhật Bản và CBCC Hải quan Việt Nam trong quá trình thực hiện Dự án.

Theo Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc, việc thực hiện Dự án VNACCS/VCIS là sự kiện lớn của ngành Hải quan, ngành Tài chính, đồng thời Dự án cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản. Tổng cục trưởng nhìn nhận việc thực hiện thành công Dự án VNACCS/VCIS chính là “mùa quả ngọt” là biểu hiện sinh động cho sự hợp tác giữa Hải quan Việt Nam và Hải quan Nhật Bản.

Để đạt được kết quả đáng khích lệ vừa qua, Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc đánh giá rất cao cường độ làm việc và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo và CBCC Hải quan Việt Nam tham gia Dự án. Đặc biệt, Tổng cục trưởng đánh giá cao và bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với đội ngũ chuyên gia của Hải quan Nhật Bản trong việc hỗ trợ Hải quan Việt Nam.

Về thực hiện nhiệm vụ năm 2013, Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc đề nghị đội ngũ CBCC của Hải quan Việt Nam và các chuyên gia đến từ Nhật Bản tiếp tục phát huy tốt tinh thần hợp tác, mối quan hệ hữu hảo giữa hai đất nước Việt Nam và Nhật Bản, trong đó có quan hệ hết sức tốt đẹp của Hải quan hai nước để thực hiện Dự án VNACCS/VCIS đạt hiệu quả cao nhất và đảm bảo được lộ trình đã đặt ra.

Nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Tỵ 2013, thay mặt lãnh đạo Tổng cục Hải quan, Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc gửi lời chúc mừng năm mới tới toàn thể CBCC tham gia Dự án và các chuyên gia đến từ Hải quan Nhật Bản.

Dưới sự chủ trì của Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Anh, Hội nghị cũng đã nghe báo cáo của Ban quản lí Dự án VNACCS/VCIS về kết quả thực hiện Dự án trong năm 2012; các tham luận về một số thay đổi cơ bản về quy trình thủ tục; CNTT… khi áp dụng VNACCS/VCIS.

Theo báo cáo của Ban quản lí Dự án, với sự hỗ trợ, hợp tác  tích cực của Hải quan Nhật Bản, sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Bộ Tài chính, lãnh đạo Tổng cục Hải quan và quyết tâm cao độ của đội ngũ CBCC trực tiếp thực hiện, năm 2012 Dự án đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ.

Kết quả cụ thể được thể hiện đồng bộ ở rất nhiều nội dung công việc như: Chuẩn bị và lập Dự án; tổ chức và nhân sự; quản lí và điều phối Dự án; hoàn thiện cơ sở pháp lí; xây dựng tài liệu hướng dẫn; tuyên truyền phổ biến thông tin…

Về nhiệm vụ năm 2013, Ban Quản lí Dự án sẽ tập trung vào một số nhóm nội dung công việc chính bao gồm: Hoàn thiện thiết kế chi tiết phần mềm đầu cuối; xây dựng sổ tay hướng dẫn sử dụng hệ thống; đào tạo, tập huấn; xây dựng bảng dữ liệu tập trung…

Để đảm bảo các mục tiêu công việc diện ra đúng kế hoạch, Ban Quản lí cũng đặt lộ trình thực hiện cho từng nhóm công việc.

Một số giải pháp để thực hiện năm 2013 được đưa ra thảo luận tại Hội nghị như: Đầu tư thêm nguồn lực cả ở cấp Tổng cục và các cục hải quan địa phương; gắn xây dựng VNACCS/VCIS với việc hoàn thiện khung khổ pháp lí về hải quan mà trọng tâm là xây dựng Luật Hải quan sửa đổi; rà soát, sắp xếp và kiện toàn dây chuyền thông quan phù hợp với mô hình VNACCS/VCIS; nâng cấp hệ thống CNTT hiện có và đường truyền một cách đồng bộ đáp ứng yêu cầu vận hành của Hệ thống…

Tại Hội nghị, đại diện một số Nhóm làm việc (thuộc Ban quản lí Dự án VNACCS/VCIS) đã trình bày tham luận liên quan đến: Những thay đổi về quy trình, thủ tục hải quan khi áp dụng VNACCS/VCIS; thay đổi về CNTT; thay đổi về áp dụng quản lí rủi ro; kế hoạch đào tạo cho người sử dụng VNACCS/VCIS…

Phát biểu kết luận Hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Anh nhấn mạnh, năm 2013, các công việc liên quan đến Dự án VNACCS/VCIS sẽ còn rất năng nề. Do đó, đội ngũ CBCC tham gia Dự án và chuyên gia đến từ Hải quan Nhật Bản cần tiếp tục quyết tâm và tăng cường đoàn kết trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra.

Trong đó, các nhóm làm việc cần tập trung vào một số công việc lớn như: Tuyên truyền, phố biến, giới thiệu về Hệ thống VNACCS/VCIS một cách đầy đủ, sâu sắc hơn nữa đến toàn thể đội ngũ CBCC trong toàn Ngành; kịp thời nhận diện những thay đổi khi ứng dụng Hệ thống vào hoạt động của Hải quan Việt Nam để chủ động đưa ra những điều chỉnh cho phù hợp; tiếp tục nâng cấp hệ thống CNTT để đáp ứng yêu cầu của Hệ thống…

(Theo HQOnline)

Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com

Nhiều tiện ích khi triển khai VNACCS

Thủ tục hải quan điện tử hiện đang mang lại nhiều lợi ích cho DN và cả cơ quan Hải quan. Và tới đây (dự kiến vào đầu năm 2014), khi ngành Hải quan triển khai áp dụng Hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS) do Nhật Bản tài trợ, việc thực hiện thủ tục hải quan đối với DN sẽ còn hiện đại, thuận tiện và dễ dàng hơn nhiều.

 Theo Ban quản lí Dự án VNACCS/VCIS (Tổng cục Hải quan), khi đưa vào vận hành Hệ thống thông quan này sẽ góp phần mang lại nhiều lợi ích hơn nữa cho người sử dụng (người dân, DN) và cả cơ quan Hải quan.

VNACCS được thiết kế để mở rộng (so với hiện nay) các thủ tục liên quan đến quy trình thủ tục hải quan như thủ tục đăng kí danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng chung cho cả hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá thấp, quản lí hàng tạm nhập tái xuất…
VNACCS cũng hoàn thiện chức năng tính thuế tự động bằng cách áp dụng việc đăng kí các chỉ tiêu dữ liệu; bổ sung phương thức nộp thuế thông qua ngân hàng hoặc bảo lãnh thuế thay bảo lãnh tự động trừ lùi, khôi phục tương ứng với số thuế đã nộp; rút ngắn thời gian làm thủ tục bằng cơ chế phân luồng tự động; tăng cường kết nối các bộ, ngành thông qua cơ chế một cửa quốc gia (NSW); hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua áp dụng chữ kí điện tử…
Để có được những tiện ích như vậy, VNACCS sẽ có nhiều điểm mới, và thay đổi so với hệ thống thông quan điện tử đang áp dụng hiện nay. Cụ thể, về nghiệp vụ hiện chỉ áp dụng ở khâu thông quan nhưng trong VNACCS sẽ được áp dụng ở nhiều khâu khác nhau như quản lí hàng đi/đến tại cảng, manifest…; chỉ tiêu nhập dữ liệu ở VNACCS được tích hợp nhiều hơn các tiêu chí trên vận đơn (Invoice), bản lược khai hàng hóa (manifest) vào chỉ tiêu khai báo trên tờ khai, việc làm này giúp việc phần luồng tự động và rút ngắn thời gian thông quan.
Đặc biệt, nhiều nội dung mới sẽ được áp dụng trong VNACCS như lấy thông tin của dữ liệu đã đăng kí để khai báo xuất nhập khẩu; thực hiện đăng kí khai báo trước (khai báo tạm); mở rộng liên kết với các bộ ngành (trước mắt sử dụng nghiệp vụ trong VNACCS có thể liên kết với 6 bộ, ngành có nhiều liên quan mật thiết đến hoạt động XNK); thực hiện quản lí hàng tạm nhập tái xuất (hiện cơ chế quản lí được thực hiện bên ngoài hệ thống thông quan điện tử)…
Đại diện Nhóm Thông quan (Ban quản lí Dự án VNACCS) cho biết, việc áp dụng các điểm mới trong VNACCS sẽ có nhiều ưu điểm. Ví dụ nghiệp vụ đăng kí khai báo trước (khai báo tạm), DN có thể chuẩn bị trước và khai báo hải quan trước khi hàng đến; giúp tránh sai sót trong nhập dữ liệu; đơn giản hóa nghiệp vụ khai báo…
Về hình thức ngân hàng nộp thuế thay được áp dụng theo quy trình: Người khai hải quan (DN) làm thủ tục cấp hạn mức thanh toán với ngân hàng, sau đó ngân hàng cấp hạn mức thanh toán cho DN, đồng thời truyền dữ liệu này vào cơ sở dữ liệu của cơ quan Hải quan để cập nhật vào Hệ thống VNACCS. Khi làm thủ tục khai báo NK người NK nhập mã ngân hàng nộp thuế thay, khi tờ khai của DN được phân vào luồng Xanh hoặc ở cuối khâu kiểm tra hồ sơ nếu số dư hạn mức của ngân hàng được đăng kí vào VNACCS, Hệ thống sẽ tự động cấp phép thông quan sau khi trừ số dư hạn mức do ngân hàng cấp tương ứng với khoản tiền thuế khai báo…
Đại diện Ban quản lí Dự án VNACCS cho biết, không chỉ có thay đổi về quy trình thủ tục mà khi áp dụng Hệ thống cũng có nhiều thay đổi liên quan đến CNTT; thay đổi về áp dụng quản lí rủi ro… để đáp ứng việc vận hành thông suốt của một Hệ thống thông quan hiện đại như VNACCS/VCIS.

 (Theo HQOnline)

Báo Mỹ: Có một làng không chồng ở Việt Nam

Đó là những góc nhìn chân thực, cảm động về làng Lòi – ngôi làng không chồng với những đứa trẻ thiếu cha ở xứ Nghệ, Việt Nam.

Khung cảnh dễ thấy trong một buổi sáng ở làng Lòi, Nghệ An là một nhóm phụ nữ chơi với những đứa cháu của mình gần một dòng suối. Chồng của họ không tồn tại, không phải vì họ đã hi sinh trong chiến tranh, mà bởi những người phụ nữ này quyết định sinh con không cần chồng.
Câu chuyện của họ bắt đầu từ cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, khi nhiều người đặt nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc lên trên lợi ích gia đình. Hòa bình lập lại, nhiều phụ nữ làng Lòi, cũng như nhiều người khác cùng thế hệ với họ đã hiến dâng những năm tháng tươi đẹp nhất cho đất nước. Họ đã quá độ tuổi kết hôn.
Tại thời điểm ấy, phụ nữ Việt Nam thường kết hôn vào tuổi 16. Những người độc thân ở tuổi 20 sẽ bị coi là “quá lứa” hoặc”quá tuổi kết hôn”. Khi những người lính trở về từ chiến trường, họ thường chọn những cô dâu trẻ tuổi hơn. Thực tế đó không khó lý giải, bởi tỷ lệ giới tính trở nên thiếu cân bằng khi quá nhiều người đàn ông đã hi sinh trong chiến tranh. Theo thống kê năm 2009 của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa Gia Đình Việt Nam, vào năm 1979, cứ 100 nữ trong độ tuổi 20 đến 44 sẽ chỉ có khoảng 88 nam.
Không giống như những người phụ nữ thuộc thế hệ trước, những người chấp nhận “số phận” và chọn cách sống đơn độc, một nhóm những phụ nữ ở làng Lòi đã chọn làm mẹ theo cách của riêng họ.
Từng người một, họ nhờ những người đàn ông – những người họ không bao giờ còn liên lạc sau đó – để giúp họ có một đứa trẻ. Hành động này được gọi là “xin con”. Điều này phá vỡ những quy tắc truyền thống và khiến họ phải đối mặt với sự phân biệt đối xử cũng như chịu đựng những khó khăn khi nuôi con một mình.
“Điều này thật khác thường”, bà Harriet Phinney – trợ lý giáo sư nhân chủng học tại ĐH Seattle nhận định. Bà Harriet cũng cho hay, đó không chỉ là sản phẩm từ lòng dũng cảm của những người mẹ mà còn là sự cảm thông của xã hội sau chiến tranh với những phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam, bao gồm hàng nghìn góa phụ, những người đã phải nuôi con một mình.
Một số phụ nữ ở Lòi rất sẵn lòng chia sẻ câu chuyện của họ nhưng vẫn giữ kín tên bố của đứa trẻ. Một trong những người phụ nữ đầu tiên ở đây chọn làm mẹ đơn thân là bà Nguyen Thi Nhan – hiện đã 58 tuổi.
Bà Nguyen Thi Nhan, người phụ nữ chấp nhận cuộc sống làm mẹ đơn thân ở làng Lòi.
Bà Nguyen Thi Nhan, người phụ nữ chấp nhận cuộc sống làm mẹ đơn thân ở làng Lòi.
Bà Nhan đã tham gia chiến tranh. Trở về sau cuộc chiến, hai mẹ con bà bị chồng bỏ rơi. Người phụ nữ ấy đã chuyển tới mảnh đất rẻ nhất bà có thể tìm thấy – một khoảng đất gần suối ở vùng ngoại ô của Lòi để sinh sống. Bà đã hỏi xin đứa con thứ 2 và sinh được một người con trai như mình mong ước.
Những năm đầu tiên đã rất khó khăn với người phụ nữ này. Cuối cùng, đã có hơn 10 người khác có lựa chọn như bà. Bà Nguyen Thi Luu, 63 tuổi cũng là một trong số đó. Bà từng đem lòng yêu một người lính nhưng ông này đã hi sinh trong chiến tranh vào năm 1972.
“Khi chiến tranh kết thúc, tôi đã 26 tuổi”, bà Luu nói, “26 tuổi là quá già để kết hôn trong thời kỳ ấy. Tôi không muốn cưới một người già mà những người đàn ông độc thân lại không chọn tôi”.
“Tôi sợ phải chết trong đơn độc”, bà Luu chia sẻ, “Tôi muốn có ai đó để nương tựa khi về già. Tôi muốn có một đứa con của mình”.
Quyết định của bà vấp phải sự ngăn cản từ phía người thân trong gia đình nhưng họ cũng đã nhanh chóng chấp nhận điều đó cũng như thừa nhận 2 cô con gái của bà Luu. Ba mẹ con bà được bố mẹ mua cho một khoảng đất trong làng.
“Sẽ dễ dàng hơn nếu được sống với những người phụ nữ khác có hoàn cảnh tương tự mình”, bà Luu chia sẻ.
Ngoài làng Lòi, còn rất nhiều phụ nữ ở khắp Việt Nam cũng đã quyết định trở thành người mẹ đơn thân, đặc biệt là những người đã tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước. Việc này đã nhận được sự quan tâm của Liên hiệp Hội Phụ nữ Việt Nam.
“Rất nhiều phụ nữ đã hi sinh mọi thứ trong chiến tranh, và chúng ta phải ghi nhận những cống hiến của họ”, bà Tran Thi Ngoi – Hội trưởng Hội Phụ nữ huyện Sóc Sơn, Hà Nội cho biết.
Năm 1986, chính phủ Việt Nam đã thông qua luật Hôn nhân và Gia đình, lần đầu tiên công nhận quyền hợp pháp của những bà mẹ đơn thân và con của họ. Đây là một chiến thắng cho những bà mẹ ở Lòi cũng như những bà mẹ đơn thân khác.
“Mọi phụ nữ đều có quyền trở thành người vợ và người mẹ, nếu họ không thể tìm một người chồng, họ vẫn có quyền sinh con”, bà Ngoi cho biết.
Chính phủ Việt Nam đã và đang làm việc với những tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng cho phụ nữ cũng như cải thiện tình hình chăm sóc sức khỏe và giáo dục cho họ. Hiện nay, dẫu còn nhiều khó khăn, nhưng các bà mẹ đơn thân cũng đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ.
Ở ngôi làng này, chỉ còn 4 người trong số 17 người phụ nữ đã lập ra cộng đồng bà mẹ đơn thân. Ba trong số đó đã mất, một số người còn lại chuyển đến sống với con cái họ ở làng khác, cũng có người kết hôn với những người đàn ông góa vợ.
“Tôi chỉ muốn làm một người mẹ. Không ai có thể thay đổi sự lựa chọn của tôi”, một người mẹ đơn thân giấu tên ở làng Lòi cho biết.

my thoughts

CÓ NHIỀU VIỆC TA CẦN LÀM TRONG ĐỜI, TRUOC HẾT LÀ LÀM 1 NGƯỜI TỐT.
Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Email: vnaccs@gmail.com