Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Luật Hải quan 2014 có hiệu lực từ 1-1-2015: Cơ sở để đổi mới toàn diện hoạt động hải quan

(HQ Online)- Ngày 1-1-2015 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 có hiệu lực đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa của toàn ngành Hải quan, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để đổi mới toàn diện hoạt động hải quan.
CBCC Hải quan Lạng Sơn hướng dẫn thủ tục XNK cho DN. Ảnh: Q.HÙNG 
 

Theo ông Mizui Osamu - Trưởng nhóm VNACCS Hải quan Nhật Bản cũng đã nhận định: “Nếu dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi) được thông qua, chắc chắn nó sẽ góp phần rất lớn vào thúc đẩy môi trường kinh doanh của Việt Nam, nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam và thúc đẩy các hoạt động thương mại. Đặc biệt, với những quy định sửa đổi mang tính cách tân thì dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này sẽ có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam trong 50 năm tới”.
Có thể thấy, năm 2015 khi Luật Hải quan 2014 chính thức được áp dụng vào cuộc sống sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc để toàn ngành Hải quan cải cách, hiện đại hóa một cách sâu rộng.

Có thể khẳng định, Luật Hải quan được Quốc hội thông qua tháng 6 - 2014 là một bước phát triển mới về cơ sở pháp lý để ngành Hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Mục tiêu này đã được lãnh đạo Bộ Tài chính, lãnh đạo Tổng cục Hải quan vạch rõ và đã trở thành mục tiêu xuyên suốt trong cả quá trình xây dựng Luật và các văn bản hướng dẫn Luật.
Luật có hiệu lực sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc để thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan, từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử. Điều này đồng nghĩa với việc hoạt động của cơ quan Hải quan được đổi mới nhằm bảo đảm tính minh bạch và tạo điều kiện để ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hoá chế độ quản lý hải quan, theo đó, không chỉ đổi mới về chính sách, mà từng quy trình, thủ tục cũng được thay đổi theo hướng tạo thuận lợi hơn cho DN.
Cụ thể, các loại hình XNK có chung bản chất sẽ cơ bản áp dụng chung thủ tục hải quan, đồng thời Luật cũng bổ sung quy định về thủ tục hải quan đối với một số loại hình hàng hóa chưa được quy định trong Luật hiện hành nhưng thực tế đã được Luật Thương mại và các Luật thuế quy định như: nhập nguyên liệu, vật tư để gia công hoặc sản xuất hàng hoá XK, một số loại hình tạm XK, tạm NK...
Trong đó, bộ hồ sơ hải quan cơ bản chỉ có tờ khai hải quan là chứng từ bắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan. Đối với các chứng từ khác thuộc bộ hồ sơ, Bộ Tài chính sẽ quy định cụ thể trường hợp phải nộp hoặc xuất trình phù hợp với quy định của pháp luật liên quan. Đây chính là điểm khác so với Luật hiện hành, nhằm đơn giản hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK.
Bám sát yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính, Luật Hải quan 2014 đã quy định rõ thời hạn công chức làm thủ tục hải quan. Tại Điều 23 của Luật đã quy định rõ công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan Hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan; thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá chỉ còn là 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan Hải quan thay vì 2 ngày như trước, trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời gian gia hạn tối đa không quá 2 ngày.
Đồng thời, Luật cũng quy định rõ cơ quan Hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa XK, NK, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương tiện vận tải hoặc trên cơ sở đề nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan.
Có thể thấy, những quy định mới nêu trên là bước cải cách thủ tục hành chính thiết thực nhất đối với hoạt động của các DN. Bên cạnh đó, để khuyến khích và tạo thuận lợi cho DN có kim ngạch XNK lớn, chấp hành tốt pháp luật hải quan, pháp luật thuế, quản trị DN tốt, đồng thời để tạo tiền đề thực hiện việc công nhận chế độ ưu tiên giữa các quốc gia như Hải quan các nước theo các Hiệp định ký kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, Luật đã bổ sung 1 mục gồm 4 điều (42, 43, 44, 45) quy định về chế độ ưu tiên đối với DN để pháp lý hóa chương trình này.
Song song cùng với đó, Luật cũng bổ sung cơ chế xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan (Điều 28) sẽ tạo cơ sở pháp luật để cơ quan Hải quan thực hiện tạo thuận lợi thương mại, giúp DN chủ động xác định trước về nghĩa vụ thuế đối với hàng hoá dự kiến NK, tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, giảm các trường hợp tranh chấp giữa DN và cơ quan Hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan phù hợp với quy định của Công ước Kyoto cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN...
Luật cũng áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan. Đây là một loại hình quản lý đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế mang lại hiệu quả quản lý cao và đã trở thành thông lệ quản lý hải quan của nhiều nước theo các Chuẩn mực về áp dụng quản lý rủi ro của Công ước Kyoto sửa đổi.
Thực tế, sự thay đổi trong quản lý về thủ tục sẽ có tác động đến hầu hết các hoạt động nghiệp vụ hải quan thuộc chức năng nhiệm vụ của Hải quan (kiểm tra, giám sát, điều tra chống buôn lậu, quản lý thuế đối với hàng hoá XK, NK…). Theo đó, Luật Hải quan 2014 đã có những quy định điều chỉnh về nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, để bảo đảm mục tiêu vừa đơn giản hoá thủ tục vừa quản lý hải quan được chặt chẽ. Tập trung ở các nội dung chính sau: Quy định về địa bàn hoạt động hải quan được bổ sung đầy đủ và minh bạch (Điều 7); tạo cơ sở pháp lý để tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan (các điều từ 77 đến 82); tăng cường hoạt động của cơ quan Hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 88, 89, 90); khai bổ sung nội dung đã khai trên tờ khai hải quan sau khi hàng hoá đã thông quan (Điều 29); kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK (Điều 35); quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong lĩnh vực hải quan (Điều 18, Điều 19, Điều 22, Điều 40, Điều 41, Điều 63, Điều 92)...
Các quy định này sẽ tạo điều kiện để cơ quan Hải quan tập trung lực lượng, phương tiện để kiểm tra, giám sát đối với những địa bàn, DN, những hàng hóa rủi ro cao, giảm lực lượng ở những nơi có rủi ro thấp, phòng chống tình trạng gian lận; góp phần đảm bảo quản lý Nhà nước về hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho DN trên cơ sở phương thức quản lý hải quan hiện đại.
Những nội dung cải cách của Luật Hải quan đã nhận được ý kiến đánh giá cao qua các kỳ họp của Chính phủ, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội Nguyễn Văn Hiện đã nhận xét: Luật Hải quan là dự án luật rất quan trọng trong điều kiện nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế và phục vụ cho phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện hiện nay. Các nội dung trong Luật Hải quan 2014 đã tập trung vào một số nội dung quan trọng như cải cách thủ tục hải quan theo hướng nội luật hóa các cam kết quốc tế, đây là vấn đề rất cấp bách, tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động XNK, hiện đại hóa hải quan, ứng dụng công nghệ thông tin, thông quan điện tử, nâng cao năng lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan, phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại.

(Nguồn: baohaiquan.vn) 


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

0 ý kiến phản hồi:

Google+ Followers

my thoughts

CÓ NHIỀU VIỆC TA CẦN LÀM TRONG ĐỜI, TRUOC HẾT LÀ LÀM 1 NGƯỜI TỐT.
Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Email: vnaccs@gmail.com