Hiển thị các bài đăng có nhãn vcis là gì. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vcis là gì. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Quan hệ hợp tác Việt Nam và Nhật Bản - nền tảng hình thành dự án VNACCS/VCIS

(vnaccs.com) - Ngày 21 tháng 9 năm 1973, đại diện hai nước (phía Nhật Bản là ông Yoshihiro Nakayama, Đại sứ Nhật Bản tại Cộng hòa Pháp; phía Việt Nam là ông Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Pháp) đã ký vào Văn kiện thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản.

Trải qua 40 năm kể từ ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (1973-2013), Việt Nam và Nhật Bản đã vượt qua những khó khăn và thử thách, từng bước đưa quan hệ giữa hai nước phát triển vững chắc và sâu rộng. Quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam và Nhật Bản đang phát triển ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, đầu tư, thương mại, khoa học công nghệ đến giáo dục, văn hóa, thể thao…mà biểu tượng là việc lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí nâng khuôn khổ quan hệ lên đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á. Sự phát triển của mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước nằm ngoài sự tưởng tượng của nhiều lãnh đạo cũng như người dân của hai quốc gia này, như ngài Shoei Utsuda – Chủ tịch Hội Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản đã từng phát biểu "ban đầu tôi không thể nghĩ rằng quan hệ hai nước lại phát triển tốt đẹp đến như vậy"

Có thể nói quan hệ Việt Nam - Nhật Bản phát triển như ngày nay là nhờ sự nỗ lực của Chính phủ, nhân dân Nhật Bản và Việt Nam trong việc xây dựng mối quan hệ đa dạng trên tất cả các lĩnh vực. Hiện nay, Nhật Bản là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất và cung cấp viện trợ ODA nhiều nhất cho Việt Nam, điều đó chứng tỏ quan hệ đối tác chiến lược mà Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản đã thống nhất xây dựng đang bước vào giai đoạn đạt tới tầm cao mới.

Trên tinh thần quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai nước, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định dành cho Việt Nam gói hỗ trợ toàn diện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại để phát triển và xây dựng hệ thống thông quan tự động dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến của hệ thống NACCS/CIS. Để đưa hệ thống NACCS/VCIS hiện đang áp dụng cho thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu tại Nhật Bản vào áp dụng tại Việt Nam, Chính phủ hai nước đã đi đến thống nhất thành lập và phát triển dự án "xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện cơ chế hải quan một cửa phục vụ hiện đại hóa Hải quan tại Việt Nam", gọi tắt là dự án "VNACCS/VCIS".
(Theo TCHQ. Tac gia:Phạm Thị Nguyệt )


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Đào tạo chi tiết về VNACCS/VCIS

(vnaccs.com) - Sáng nay 19-8, tại Hà Nội, Tổng cục Hải quan tổ chức khai mạc Lớp đào tạo chi tiết về thủ tục hải quan trong VNACCS/VCIS. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ khai mạc.

Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc nhấn mạnh: Tháng 4-2014, VNACCS/VCVIS sẽ vận hành chính thức. Đây là Hệ thống thông quan tự động hiện đại có tác động rất lớn đến việc thực hiện các mục tiêu về hiện đại hóa của Hải quan Việt Nam. Đồng thời VNACCS/VCIS cũng đáp ứng việc đi tắt, đón đầu trong xu thế hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng của đất nước.



Việc thực hiện thành công VNACCS/VCIS còn là giải pháp quan trọng để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách.

Để vận hành đúng tiến độ, đảm bảo đạt các mục đích, yêu cầu đặt ra vấn đề đào tạo có vai trò hết sức quan trọng.

Từ nay đến 31-10-2013, ngành Hải quan sẽ tập trung tổ chức đào tạo chi tiết về thủ tục hải quan được thực hiện trong VNACCS/VCIS cho CBCC toàn Ngành và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cả nước.

Việc đào tạo được Tổng cục tổ chức theo 3 khu vực: Miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Đối tượng được Tổng cục đào tạo là đội ngũ chuyên gia các cục hải quan địa phương. Sau đó đội ngũ chuyên gia sẽ có trách nhiệm đào tạo lại cho CBCC từng đơn vị và doanh nghiệp trên địa bàn. 

Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc yêu cầu các học viên tham dự Lớp đào tạo cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện đúng các nội quy, quy chế lớp học để việc đào tạo đạt hiệu quả cao nhất. Đặc biệt đây là những chuyên gia các cục hải quan địa phương có trách nhiệm tiếp thu và đào tạo lại cho CBCC ở từng đơn vị và doanh nghiệp những người trực tiếp sử dụng VNACCS/VCIS sau này. 

Tổng cục trưởng nhấn mạnh công tác tuyên truyền về việc triển khai VNACCS/VCIS cần tiếp tục tăng cường hơn nữa, nhằm giúp Chính phủ, Bộ Tài chính, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng xã hội thấy được vai trò, tầm quan trọng của VNACCS/VCIS đối với hoạt động hải quan, qua đó ủng hộ, hợp tác để thực hiện thành công VNACCS/VCIS.

Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc cũng dành lời cảm ơn chân thành tới đội ngũ chuyên gia đến từ Hải quan Nhật Bản đã hỗ trợ nhiệt tình, đầy tinh thần trách nhiệm và hiệu quả để việc thực hiện Dự án đảm bảo tiến độ, chất lượng đặt ra.

Lớp đào tạo đầu tiên diễn ra tại Hà Nội trong 5 ngày (từ 19 đến 23-8) với sự tham gia của các CBCC là chuyên gia đến từ 11 Cục Hải quan địa phương khu vực phía Bắc gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Cao Bằng, Hà Giang, Điện Biên, Lào Cai, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An; giảng viên về Hệ thống VNACCS/VCIS của Trường Hải quan Việt Nam; một số cán bộ nghiệp vụ các cơ quan thuộc Tổng cục Hải quan: Cục Giám sát quản lí về hải quan, Cục Thuế xuất nhập khẩu, Cục Kiểm tra sau thông quan, Ban Quản lí rủi ro về hải quan, Ban Cải cách hiện đại hóa hải quan.

Ông Nguyễn Mạnh Tùng- Cục trưởng Cục CNTT& Thống kê Hải quan, kiêm Phó Trưởng ban Thường trực Ban triển khai Dự án VNACCS/VCIS cho biết, VNACCS/VCIS sẽ bao trùm lên rất nhiều hoạt động của Hải quan Việt Nam. Nhưng quan trọng nhất, chiếm số lượng lớn nhất vẫn là về quy trình thủ tục hải quan.

Chính vì vậy, đây là nội dung có thời gian đào tạo nhiều nhất trong lớp học lần này. Cán bộ của Ban triển khai Dự án sẽ giới thiệu tất cả quy trình thủ tục được sử dụng trong VNACCS như: Kiểm tra, giám sát hải quan; quy trình thu thuế xuất nhập khẩu…
Nội dung đào tạo thứ hai là về nghiệp vụ quản lí rủi ro dành cho cán bộ công chức làm nhiệm vụ này.

Nội dung đào tạo thứ ba về CNTT dành cho cán bộ làm công tác về CNTT.
Sau Lớp đào tạo tại Hà Nội, Tổng cục sẽ tổ chức tiếp các lớp đào tạo tương tự ở khu vực miền Trung và miền Nam. Với vai trò quan trọng của công tác này nên tất cả các lớp đào tạo ở các khu vực do Tổng cục tổ chức sẽ có sự tham dự của lãnh đạo Tổng cục.

(Theo HQonline, tác giả: Thái Bình)



Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

VNACCS/VCIS : Hệ thống thông quan điện tử tự động và cơ chế một cửa quốc gia

(VNACCS.com) - VNACCS/VCIS là hệ thống khai báo điện tử, hỗ trợ tích cực người sử dụng thực hiện các thủ tục pháp lý, giúp đẩy nhanh tốc độ và tăng cường hiệu quả hoạt động ngoại thương của Việt Nam.


VNACCS = VietNam Automatic Cargo Clearance System
VCIS = VietNam Customs Intelligent Information System

VNACCS là một hệ thống thông quan điên tử.
Tập trung vào cả 03 khâu : Trước, trong và sau thông quan.
Tăng cường kết nối với các Bộ/Ngành khác bằng cách áp dụng cơ chế một cửa.
Tiếp nhận và xử lý phân luồng thông tin khai báo của doanh nghiệp. Hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua việc áp dụng Chữ ký điện tử.
Thay đổi căn bản việc quản lý, giám sát về hải quan theo hướng tăng cường trách nhiệm của các doanh nghiệp.



- VNACCS/VCIS là hệ thống khai báo điện tử, hỗ trợ tích cực người sử dụng thực hiện các thủ tục pháp lý, giúp đẩy nhanh tốc độ và tăng cường hiệu quả hoạt động ngoại thương của Việt Nam.
            - Hiện đại hóa lĩnh vực hải quan của Việt Nam thông qua việc thực hiện sử dụng VNACCS/VCIS được đánh giá là hiện đại nhất và mới nhất của thế giới.

            Thông qua việc áp dụng hệ thống thông quan và chế độ thông quan tương đối giống với Nhật Bản, Việt Nam hướng tới sự hiện đại hóa của hải quan Việt Nam. Với việc đưa vào sử dụng hệ thống thông quan điện tử của Nhật Bản (VNACCS/VCIS) và các chế độ hỗ trợ hệ thống này, sự hiện đại hóa của lĩnh vực hải quan Việt Nam sẽ được đẩy mạnh, trở thành cơ sở hạ tầng thông tin của hoạt động ngoại thương. Tính tin cậy, tính năng và tính mở rộng của hệ thống sẽ được thực hiện ở một mức độ cao.

            - VNACCS/VCIS với tư cách là một hệ thống khai báo điệ tử dùng chung cho cả khu vực nhà nước và tư nhân bằng việc kết nối Online giữa hải quan, các ngành liên quan, các cơ quan chính phủ liên quan, giúp các doanh nghiệp tư nhân không cần phải đi  tới cơ quan hải quan hay các cơ quan chính phủ, ngân hàng liên quan. Việc xử lý khai báo bao gồm cả chức năng thẩm định và chức năng nộp thuế, do đó công đoạn từ tiếp nhận khai báo đến thông báo kết quả sẽ thực thực hiện tự động.

            - Đảm bảo tính chính xác của thông tin : VNACCS/VCIS có mục đích là thực hiện đăng ký và lưu chính xác các thông tin của người sử dụng liên quan thủ tục pháp lý và các thủ tục liên quan, và để thực hiện được những mục đích này, VCIS sẽ thực hiện các nghiệp vụ cần thiết. Ví dụ, trong các giao dịch thương mại có những trường hợp thay đổi nội dung hợp đồng sau khi hợp đồng đã được ký kết, việc xử lý khai báo sẽ dựa vào đó để thực hiện các nghiệp vụ có khả năng thay đổi sau khi khai báo, cũng như khai báo sau khi thay đổi, ví dụ thay đổi thông tin cho phù hợp với thực trạng của giao dịch.

(Theo website HQđà nẵng.  Tác giả: Nguyen van Dũng)
Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Dự án VNACCS, điểm sáng trong quan hệ hợp tác phát triển về lĩnh vực hải quan giữa Việt Nam và Nhật Bản

Trong gần hai thập kỷ hợp tác vừa qua giữa Việt Nam và Nhật Bản về lĩnh vực Hải quan, dự án VNACCS đánh dấu một nấc thang mới trên chặng đường hợp tác tích cực giữa hai bên.

Là một trong những nước sớm quan tâm đến sự phát triển của ngành Hải quan như là động lực thúc đẩy giao lưu thương mại sau thời kỳ mở cửa, Chính phủ Nhật Bản thông qua cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Hải quan Nhật Bản đã dành cho Hải quan Việt Nam sự trợ giúp có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trên lĩnh vực hội nhập quốc tế, Nhật Bản đã hỗ trợ Hải quan Việt Nam tiếp cận và nắm bắt công ước Kyoto và công ước Kyoto sửa đổi để từng bước nghiên cứu và nội luật hóa các chuẩn mực của công ước tiến tới gia nhập công ước theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO). Nhật Bản cũng hỗ trợ tích cực Việt Nam tìm hiểu và xây dựng kiến thức về trị giá hải quan để có thể thực hiện điều 7 của Hiệp định GATT, một phần trong nỗ lực gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam. Trong quá trình gia nhập ASEAN của Việt Nam, Nhật Bản cũng có những đóng góp tích cực khi giúp Việt Nam xây dựng danh mục biểu thuế hài hòa chung ASEAN (AHTN) thông quan việc giới thiệu và tìm hiểu về hệ thống hài hòa (HS).

Trên lĩnh vực tăng cường năng lực quản lý hải quan, Nhật Bản đã dành sự hỗ trợ đa dạng cho Hải quan Việt Nam, như: tổ chức trao đoàn, nghiên cứu thực tế, hội thảo, tập huấn, cử chuyên gia, cung cấp tài liệu,… Thông qua các hoạt động này, nhiều dung nghiệp vụ hải quan quan trọng và phương thức quản lý hiện đại đã được giới thiệu và trình bày cho đông đảo và nhiều lớp cán bộ, công chức hải quan. Trong số đó, các nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, quản lý rủi ro đã được giới thiệu từ rất sớm cho Hải quan Việt Nam, mở ra cơ hội và thời gian cho Hải quan Việt Nam nghiên cứu, tiếp cận và chuẩn bị cho việc phát triển và áp dụng phương thức quản lý mới vào thực tiễn như hiện nay.

Trên lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, Nhật Bản không chỉ giới hạn ở việc đào tạo, truyền thụ kiến thức, kỹ năng làm việc cho Hải quan Việt Nam mà còn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ máy cái làm nòng cốt nhân rộng kiến thức trong toàn ngành. Cách làm này tạo ra sự phát triển lâu dài và bền vững cho Hải quan Việt Nam khi mà các nguồn trợ giúp từ bên ngoài ngày càng hạn chế trong bối cảnh Việt Nam ra khỏi nhóm những nước nghèo.

Trên lĩnh vực hiện đại hóa hoạt động hải quan, Nhật Bản đã trang cấp cho Hải quan nhiều máy móc, thiết bị tiên tiến nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của cơ quan hải quan. Nhật Bản đã từng hỗ trợ Việt Nam trang cấp mới trung tâm phân tích phân loại miền Nam và miền Trung, bổ sung trang thiết bị cho trung tâm phân tích phân loại miền Bắc. Qua đó nâng cao năng lực đưa ra kết luận chính xác, thống nhất về phân loại hàng hóa XNK, giảm thiểu tranh chấp và chi phí. Gần đây, Nhật Bản cũng mới trang cấp cho Hải quan Việt Nam hai hệ thống máy soi công ten nơ giúp nâng cao hiệu quả kiểm tra, giảm thời gian thông quan tại các địa bàn trọng điểm có số lượng khai báo XNK lớn.

Với những thành tựu hợp tác về lĩnh vực hải quan trong suốt chặng đường vừa qua, và như là một động thái khẳng định phát triển toàn diện quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai nước, Chính phủ Nhật Bản đã đề xuất hợp tác triển khai Dự án hoàn thiện hệ thống thủ tục thương mại bằng hải quan điện tử và hải quan một cửa tại Việt Nam, gọi tắt là dự án VNACCS. Đáp lại đề xuất của Nhật Bản, Chính phủ Việt Nam đã chính thức đề nghị Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ triển khai dự án trên thông qua một gói toàn diện gồm công nghệ thông tin, quản lý hải quan hiện đại, đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Dự án VNACCS đã ra đời trong bối cảnh như vậy và bắt đầu khởi động từ giữa năm 2011.

Như đặc điểm nêu trên, dự án VNACCS là dự án hợp tác song phương lớn nhất từ trước đến nay. Dự án không chỉ giúp thiết lập hệ thống thông quan tự động dựa trên nền tảng công nghệ của Nhật Bản mà còn mở rộng phạm vi hỗ trợ một cách toàn diện trên các mặt: hoàn thiện cơ sở pháp lý, bộ máy tổ chức, dây truyền thông quan, cải thiện năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với ứng dụng hệ thống thông quan tự động mới, trang bị kiến thức và kỹ năng quản lý tiên tiến. Bên cạnh đó, Dự án cũng hỗ trợ xử lý thông tin từ các bộ ngành trong nỗ lực thiết lập cơ chế một cửa hải quan như là bước chuẩn bị cho việc kết nối vào cơ chế một cửa ASEAN trong tương lai. Với những hoạt động triển khai trên, Dự án được xem như là hình mẫu tổng hòa các hình thức trợ giúp trước đây của Nhật Bản dành cho Hải quan Việt Nam với nguồn vốn huy động tập trung cao nhất. Dự án sẽ hứa hẹn tạo lập một môi trường thông quan tiên tiến, đáp ứng nhu cầu giao thương mại ngày càng cao của Việt Nam, hỗ trợ tích cực Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập trong khu vực và quốc tế.

(Theo TCHQ)

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Những thay đổi về thủ tục hải quan trong VNACCS

- Theo Tiểu nhóm thông quan thuộc Nhóm làm việc Dự án VNACCS/VCIS trong VNACCS sẽ có một số thay đổi về thủ tục so với hiện nay. Cụ thể, để được mở tờ khai chính thức người khai phải có hàng mới được thực hiện thủ tục này.

Khái niệm “có hàng” nghĩa là hàng hóa đã đến địa điểm tập kết chờ làm thủ tục hải quan; còn trường hợp trước khi hàng về hoặc trước khi tập kết hàng hóa XK để làm thủ tục cơ quan Hải quan cho phép DN được đăng kí tờ khai tạm, đồng thời quy định cụ thể giá trị của tờ khai tạm này.

Tiểu nhóm thông quan đánh giá, sự thay đổi này sẽ giúp hạn chế tình trạng lợi dụng (do biết trước kết quả phân luồng) để buôn lậu, gian lận thương mại; giúp cơ quan Hải quan tăng cường quản lí, giám sát. Tuy nhiên, vấn đề này cũng có những đòi hỏi cao về điều kiện đi kèm như yêu cầu về việc bố trí, xây dựng địa điểm tập kết chờ thông quan; hệ thống thông quan phải luôn được đảm bảo, bởi thời gian thông quan sẽ bị ảnh hưởng khi hệ thống gặp sự cố…

Về phân luồng được quyết định dựa trên thông tin khai báo. Do đó, người khai hải quan không phải nộp chứng từ khác khi đăng kí tờ khai; khi làm thủ tục thông quan, người khai chỉ phải nộp hồ sơ khi tờ khai bị phân luồng Đỏ hoặc luồng Vàng, đối với luồng Xanh được nộp sau khi đã thông quan (dự kiến sau 7 ngày kể từ ngày được thông quan).

Sự thay đổi này giúp DN giảm thiểu chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan, ví dụ hợp đồng sẽ không phải là chứng từ bắt buộc với mọi lô hàng NK. Để thực hiện sự thay đổi này đỏi hỏi tờ khai hải quan phải thiết kế chi tiết để hệ thống quyết định phân luồng, quản lí, giám sát và thống kê; đội ngũ đại lí hải quan, người khai hải quan cũng phải có trình độ chuyên nghiệp (để tránh sai sót trong khai báo).

Việc khai bổ sung tờ khai hải quan, cho phép khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan (đến trước thời điểm cơ quan Hải quan ra quyết định thông quan). Trường hợp khai bổ sung làm tăng thuế người khai hải quan sẽ phải nộp bổ sung tiền thuế (tương tự như hình thức phạt). Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho DN nâng cao tính tuân thủ, cơ quan Hải quan sẽ không sử dụng ngay quyền ấn định thuế. Sự thay đổi về khai bổ sung sau khi hàng hóa được thông quan sẽ đòi hỏi phải được sửa đổi trong Luật Hải quan và Luật Quản lí thuế.

Một số thay đổi khác như: Yêu cầu DN phải hoàn thành thủ tục và thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc có khoản đảm bảo mới được thông quan và giải phóng hàng. Sự thay đổi này nhằm hướng tới đề xuất bãi bỏ quy định về ân hạn thuế và thực hiện thanh toán thuế điện tử. Việc làm này cần có sự sửa đổi Luật Quản lí thuế và các văn bản hướng dẫn liên quan.

(Theo vnlogistics)

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Tìm hiểu hệ thống thông quan NACCS của Hải quan Nhật Bản


Để đạt được mục tiêu hiện đại hoá tất cả quy trình nghiệp vụ hải quan, Hải quan Nhật Bản đã phải nỗ lực từng bước khắc phục những khó khăn và cản ngại. Một trong những điều mà Hải quan Nhật Bản coi trọng trong quá trình hiện đại hoá là ứng dụng toàn diện quy trình tin học vào công tác nghiệp vụ, trong đó trọng tâm là hệ thống thông quan điện tử NACCS.



Triển khai thành công hệ thống thông quan NACCS
Hải quan Nhật Bản tiến hành đề án tin học hoá ngành hải quan bắt đầu từ năm 1978 với việc áp dụng Hệ thống tin học hải quan tự động (NACCS), xử lý các vấn đề liên quan đến thủ tục thương mại nhằm cải thiện và đẩy nhanh quá trình thông quan hàng hoá. Hệ thống này đóng vai trò then chốt trong việc tiến đến mục tiêu chính của ngành Hải quan Nhật Bản là thiết lập dịch vụ thông quan “một cửa” cho khách hàng.
Cuộc cách mạng tin học hoá trong ngành Hải quan Nhật Bản mang lại lợi ích không chỉ đối với ngành hải quan mà còn cả đối với cả giới doanh nghiệp.
Quá trình thông quan hàng hoá diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm đáng kể thời gian và tiền bạc cho giới doanh nghiệp, trong khi đó công tác quản lý của ngành hải quan được chuyển từ quản lý và giao dịch trên giấy tờ sang quản lý và giao dịch bằng tin học, giúp công việc đơn giản và hiệu qủa hơn rất nhiều.
Việc áp dụng tin học hoá của Hải quan Nhật Bản thực sự nhảy vọt trong tiến trình cải cách, hiện đại hoá. Hệ thống NACCS của Hải quan Nhật Bản hiện nay được coi như mô hình giao diện chuẩn cho các cơ quan hữu trách có liên quan khác phát triển hệ thống tin học của mình.

Hàng hóa XNK được thông quan nhanh chóng


Theo quy định chung đối với hàng hóa XNK, việc khai báo thực hiện qua Hệ thống thông quan tự động NACCS. Hệ thống NACCS được vận hành như sau: Đầu tiên người khai thuê sẽ nhập dữ liệu thông tin cần thiết để khai báo về lô hàng XNK bằng máy vi tính của mình.
Sau khi xử lý thông tin, hệ thống sẽ “chạy” và tự động hiện ra những quy định hiện hành có liên quan, tự động tính ra số thuế phải nộp... để hoàn thiện tờ khai và in nội dung đó ngay tại máy tính trạm của người sử dụng. Sau đó, một chuyên gia về hải quan (là người được cơ quan Hải quan cấp chứng nhận và làm việc trong công ty khai thuê, không phải công chức Hải quan) xác nhận và chuyển tờ khai này tới cơ quan Hải quan qua hệ thống. Hệ thống NACCS sẽ tự động lựa chọn cách thức, quy trình kiểm tra dựa trên khai báo.
Có 3 hình thức kiểm tra hải quan: kiểm tra đơn giản, kiểm tra chứng từ và kiểm tra thực tế hàng hóa. Đối với hình thức kiểm tra đơn giản, cơ quan Hải quan sẽ chấp nhận cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ngay lập tức, đó là đối với các trường hợp hàng hóa miễn thuế; thuế đã được nộp qua tài khoản điện tử hoặc được chấp nhận nợ thuế.
Đối với hình thức thứ 2 (kiểm tra chứng từ), người XNK phải xuất trình một bản photocopy tờ khai cho cơ quan Hải quan cùng với các chứng từ cần thiết như invoice... Việc kiểm tra chứng từ do công chức Hải quan thực hiện, sau đó hàng hóa XNK khai báo được chấp thuận (đối với hàng có thuế, sau khi việc nộp thuế được xác nhận). Lệnh chấp nhận thông quan sẽ được cung cấp cho máy tính trạm của người nhập khẩu hoặc người khai thuê.
Đối với hình thức thứ 3 (kiểm tra thực tế hàng hóa), thủ tục như đối với hình thức thứ 2, nhưng công chức hải quan sẽ tiếp tục kiểm tra thực tế hàng hóa sau khi đã kiểm tra chứng từ. Cơ quan Hải quan có thể kiểm tra thực tế hàng hóa tại: nơi lưu giữ hàng hóa; lấy mẫu về kiểm tra; kiểm tra trong khu vực kiểm tra hải quan. Khi hoàn thành việc kiểm tra, hàng hóa sẽ được chấp nhận thông quan thực sự, riêng đối với hàng NK có thuế, chỉ sau khi doanh nghiệp nộp thuế.
Theo thống kê của Hải quan Nhật Bản, có khoảng 70% lượng hàng hóa XNK áp dụng hình thức kiểm tra đơn giản, 25% lượng hàng hóa kiểm tra hồ sơ, còn lại chỉ có 5% hàng hóa phải kiểm tra thực tế.

Các bước thủ tục đối với hàng xuất khẩu 
Sau khi khai báo qua mạng thông tin, trước hết hàng hóa XK sẽ được đưa vào khu vực Hozei (khu vực dành riêng cho hàng hóa XNK); Người làm thủ tục hải quan sẽ xuất trình invoice và các chứng từ khác như chấp nhận thông quan (trước đó đã được xử lý qua NACCS), giấy phép khác nếu có.
Cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra một lần nữa tờ khai XK đã được cho phép XK và các chứng từ khác. Việc kiểm tra chứng từ được thực hiện trong trường hợp: sự phân loại đúng theo Danh mục dữ liệu hàng xuất khẩu; hàng hóa phù hợp; việc áp dụng cho hàng hóa được phép miễn thuế là chính xác.
Khi kiểm tra những chứng từ được xuất trình, cơ quan Hải quan quyết định hàng hóa nào sẽ phải kiểm tra thực tế để xác định chắc chắn rằng việc phân loại hàng hóa là chính xác, cũng như phù hợp với quy định của các luật khác.
Trong một số trường hợp, chủ hàng XK phải xin giấy phép của các cơ quan chức năng khác trước khi làm thủ tục hải quan như Bộ Kinh tế và thương mại; Bộ Sức khoẻ và lao động việc làm...


(Theo HQonline) 

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

VCIS: Căn cứ phân loại và lựa chọn DN để kiểm tra

(HQ Online)-Hệ thống thông tin tình báo (VCIS) gồm 24 nghiệp vụ kết nối với các hệ thống công nghệ thông tin hiện có trong và ngoài ngành Hải quan để có được những thông tin tổng hợp, giúp cho các cán bộ Hải quan ở cửa khẩu có thông tin đầy đủ trước khi ra quyết định kiểm tra hay miễn kiểm tra. Không những thế, VCIS giữ vai trò quan trọng trong đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp, giúp cho quá trình thông quan được diễn ra nhanh chóng, chính xác.

Hệ thống thông quan hàng hóa tự động (VNACCS) và Hệ thống thông tin tình báo (VCIS) sẽ được triển khai trong toàn ngành Hải quan từ giữa năm 2014 với đầy đủ các tính năng để đáp ứng yêu cầu quản lý của cơ quan Hải quan như: Phần mềm tiếp nhận và xử lý khai báo điện tử (E-Declaration), lược khai hàng hóa điện tử (E-Manifest), hóa đơn điện tử (E-Invoice), thanh toán điện tử (E- Payment), chứng nhận xuất xứ hàng hóa điện tử (E- C/O), phiếu đóng gói điện tử (E- P/L), phân luồng lựa chọn kiểm tra (Selectivity), quản lý thông tin về hoạt động và quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, cũng như các đối tượng nằm trong danh sách đối tượng trọng điểm…

Bên cạnh Hệ thống VNACCS, Hệ thống VCIS là hệ thống thông tin nghiệp vụ, dành riêng cho nội bộ cơ quan Hải quan nhằm hỗ trợ công tác kiểm tra hải quan nói chung và công tác quản lý rủi ro của Hải quan nói riêng.

Hệ thống VCIS gồm 24 nghiệp vụ kết nối với các hệ thống công nghệ thông tin hiện có trong và ngoài ngành Hải quan để có được những thông tin tổng hợp, giúp cho các cán bộ Hải quan ở cửa khẩu có thông tin đầy đủ trước khi ra quyết định kiểm tra hay miễn kiểm tra. Không những thế, VCIS giữ vai trò quan trọng trong đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp, giúp cho quá trình thông quan được diễn ra nhanh chóng, chính xác. Khác với VNACCS, Hệ thống VCIS có tính bảo mật cao, được phân quyền cụ thể và chặt chẽ để chỉ những cán bộ có trách nhiệm xử lý công việc có liên quan mới có thể tiếp cận và khai thác thông tin.

Do hoạt động phân luồng kiểm tra ở cửa khẩu giờ đây phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin và các tiêu chí lựa chọn đối tượng cần kiểm tra trên hệ thống VCIS. Do đó, khi triển khai hệ thống VCIS, ngành Hải quan sẽ có những thay đổi nhất định về cơ cấu tổ chức, nhằm tập trung nguồn nhân lực cho việc thu thập, xử lý thông tin và đánh giá quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, cá nhân. Đây chính là nguồn thông tin giúp cho VCIS có căn cứ để phân loại và lựa chọn kiểm tra với xác suất phù hợp với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu.

Trên Hệ thống VCIS bao gồm các thông tin về tiêu chí, hồ sơ rủi ro, hồ sơ doanh nghiệp và hồ sơ vi phạm. Khi một doanh nghiệp thực hiện đăng ký tờ khai tại Chi cục Hải quan bằng giao diện trên Hệ thống VNACCS, nghĩa là trên Hệ thống VNACCS có chứa thông tin về tờ khai mà doanh nghiệp đã khai báo trước đó. VNACCS sẽ có nhiệm vụ xử lý thông tin trên cơ sở thông tin tiêu chí mà VCIS gửi qua. Như vậy, thông tin trên Hệ thống VCIS đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý phân luồng tờ khai (xanh, vàng, đỏ) trên Hệ thống VNACCS.

Giờ đây, ở các chi cục hải quan cửa khẩu, mọi hoạt động kiểm tra đều xuất phát và dựa trên VCIS, việc tra cứu thông tin về doanh nghiệp xuất nhập khẩu để có thêm căn cứ cho việc kiểm tra như thông tin sơ lược tiểu sử pháp nhân, quá trình hoạt động xuất nhập khẩu, lịch sử chấp hành tốt pháp luật và doanh nghiệp có nằm trong diện nghi vấn, cần lưu ý kiểm tra hay không... Mọi thông tin được hiển thị trên hệ thống VCIS, trên cùng một giao diện song song với VNACCS, tiện lợi cho cán bộ hải quan trong quá trình kiểm tra.

Hệ thống thông tin tình báo (VCIS) là cốt lõi của dự án. Việc áp dụng Hệ thống VNACCS/VCIS vào hoạt động Hải quan của VN sẽ làm thay đổi căn bản phương thức quản lý của Hải quan Việt Nam từ thủ công, đơn lẻ sang việc dựa trên ứng dụng các hệ thống phần mềm tích hợp tự động để nâng cao hiệu quả quản lý và mang đến cho doanh nghiệp nhiều thuận lợi.

(nguồn: http://www.baohaiquan.vn )

my thoughts

CÓ NHIỀU VIỆC TA CẦN LÀM TRONG ĐỜI, TRUOC HẾT LÀ LÀM 1 NGƯỜI TỐT.
Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Email: vnaccs@gmail.com