Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Khởi động việc sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu

(HQ Online)- Ngày 24-3, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Vũ Ngọc Anh chủ trì cuộc họp với một số đơn vị thuộc Tổng cục để trao đổi về việc sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
Quang cảnh buổi họp bàn (Ảnh: T.Tr) 
 
Việc sửa Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thực hiện theo Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26-11-2011 của Quốc hội khoá XIII về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, Nghị quyết số 428/NQ-UBTVQH13 ngày 29-12-2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13.
Bộ Tài chính đã giao Tổng cục Hải quan xây dựng dự án Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Phát biểu tại cuộc họp, bà Lỗ Thị Nhụ, Cục trưởng Cục Thuế XNK-Tổng cục Hải quan (đơn vị chủ trì xây dựng) cho biết, hiện Cục Thuế XNK đã tiến hành tổng kết và đánh giá việc thực hiện các quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ năm 2005 đến nay, rà soát các nội dung vướng mắc và các vấn đề mới phát sinh từ thực tế thực hiện hội nhập quốc tế làm cơ sở đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. 
Theo Cục trưởng Cục Thuế XNK, mục tiêu sửa Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn trước mắt và lâu dài, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý thu, nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; đề cao được vai trò quản lý của Nhà nước trong chống gian lận thương mại, chống thất thu thuế;
Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, tạo môi trường pháp lý, thủ tục hành chính đơn giản, thuận lợi cho đối tượng thi hành luật và góp phần thực hiện tốt công tác quản lý thuế của ngành Hải quan theo Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25-3-2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020;
Phù hợp, thống nhất, đồng bộ với quy định của Hiến pháp, các bộ luật và luật hiện hành; phù hợp với các cam kết và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc đang đàm phán.
Đồng thời phù hợp với nội dung cải cách về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tại Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17-5-2011 về việc phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020. Tại Điểm c khoản 1 mục III Điều 1 Quyết định số 732/QĐ-TTg quy định: “Sửa đổi, bổ sung Biểu thuế xuất khẩu nhằm khuyến khích sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hạn chế xuất khẩu khoáng sản tài nguyên chưa qua chế biến, giảm hàng hóa gia công giá trị gia tăng thấp; sửa đổi, bổ sung thuế nhập khẩu nhằm bảo hộ hợp lý, có thời hạn, phù hợp với thông lệ quốc tế đối với một số hàng hóa sản xuất trong nước; thu gọn số lượng mức thuế suất, từng bước đơn giản biểu thuế, mã số hàng hóa; sửa đổi quy định về phương pháp tính thuế (bao gồm cả phương pháp tính thuế hỗn hợp, kết hợp thuế suất theo tỷ lệ phần trăm và thuế tuyệt đối); thực hiện lộ trình điều chỉnh các mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên tham gia”.
Cùng với đó, tháo gỡ các vướng mắc, bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, bảo đảm tính thống nhất, đầy đủ, đồng bộ và khả thi của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Theo đó, nguyên tắc xây dựng Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật của Nhà nước; Kế thừa những quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn và dự báo được những nội dung mới trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để bảo đảm tính ổn định và lâu dài của Luật. Phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi để thưc hiện các cam kết quốc tế song phương, đa phương.
Trên cơ sở rà soát, Cục Thuế XNK đã đưa ra một số nội dung chủ yếu cần sửa đổi trong Luật, cụ thể là: Sửa đổi các quy định về Biểu thuế, thuế suất để bảo đảm khắc phục các vướng mắc hiện hành, thống nhất thẩm quyền quy định mức thuế suất, quy định đầy dủ các loại thuế suất phù hợp với thông lệ quốc tế; Sửa đổi các quy định về miễn thuế, hoàn thuế để bảo đảm khắc phục các vướng mắc hiện hành, thống nhất với quy định của pháp luật có liên quan; Sửa đổi về căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế, thời điểm tính thuế...
Qua các ý kiến trao đổi, nhấn mạnh hơn nữa về mục tiêu sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Anh cho rằng, việc sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu cần bám sát vào các mục tiêu: xây dựng chính sách thuế ổn định để phát triển sản xuất trong nước; chính sách thuế phải ổn định, đơn giản để dễ thực hiện; tạo thuận lợi thương mại trong đầu tư nhưng phải nâng cao hiệu và quản lý; và phải phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Phó Tổng cục trưởng cũng yêu cầu các đơn vị phải bám sát kế hoạch triển khai Luật, phân công thực hiện rõ ràng và phải đảm bảo đúng tiến độ xây dựng của Luật.
Dự án Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội vào kỳ họp trong tháng 10-2015.
 
(Nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Quy định mới về thủ tục hải quan với một số loại hình xuất nhập khẩu


(HQ Online)- Bỏ quy định nộp hợp đồng mua bán khi làm thủ tục tạm nhập; lập danh sách các tờ khai NK tại chỗ gửi cho cơ quan Thuế đối với hàng hóa XNK tại chỗ theo tháng thay vì từng lần; chủ kho tự theo dõi thanh khoản hợp đồng thuê kho ngoại quan, báo cáo về hiện trạng hàng hóa trong CFS theo từng quý...
Công chức Hải quan Bắc Thăng Long (Cục Hải quan Hà Nội)  kiểm tra niêm phong container hàng hóa XNK. Ảnh: Hữu Linh 
 
Đó là những quy định mới về thủ tục hải quan đối với một số loại hình XNK tại dự thảo Thông tư chung hướng dẫn Luật Hải quan 2014.

Bỏ quy định nộp hợp đồng mua bán khi làm thủ tục tạm nhập
Tại Điều 82, 83, 84 dự thảo Thông tư chung đã quy định rất chi tiết thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất (TNTX). Cụ thể việc xác nhận DN có hoạt động XK, NK hoặc tạm nhập, tái xuất hàng hóa giữ nguyên theo Thông tư 94/2014/TT-BTC.
Quy định mới về thủ tục hải quan hàng kinh doanh TNTX đã bãi bỏ quy định phải nộp hợp đồng mua bán hàng hóa XK khi làm thủ tục tạm nhập, bỏ quy định lãnh đạo Chi cục phải kiểm tra, ký xác nhận cùng công chức trên tờ khai tái xuất. Và bổ sung quy định về cửa khẩu xuất trong trường hợp hàng hóa xuất vào các khu phi thuế quan, DNCX.
Bên cạnh đó, quy định về quản lý, theo dõi tờ khai TNTX, TXTN cũng bổ sung mới theo quy định tại Nghị định 08/2015/NĐ-CP. Theo dõi thời hạn lưu giữ và quản lý lượng hàng TNTX, TXTN. Thực hiện thủ tục hoàn thuế, không thu thuế NK, thuế XK sau khi tái xuất, tái nhập. Xử lý đối với trường hợp thay đổi mục đích sử dụng, chuyển tiêu thụ nội địa.

Lập danh sách các tờ khai NK tại chỗ theo tháng
Tại Điều 86 dự thảo Thông tư chung quy định rõ hàng hóa XK, NK tại chỗ bao gồm: Sản phẩm gia công; máy móc, thiết bị thuê hoặc mượn; nguyên liệu, vật tư dư thừa; phế liệu, phế phẩm; Hàng hóa mua bán giữa DN nội địa với DNCX, DN trong khu phi thuế quan; Hàng hóa mua bán giữa DN Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam. Địa điểm làm thủ tục đối với hàng hóa XK, NK tại chỗ là Chi cục Hải quan thuận tiện cho DN.
Về hồ sơ hải quan đối với loại hình này, dự thảo Thông tư quy định DN được sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng thay cho hóa đơn thương mại trong trường hợp mua bán giữa DN nội địa và DNCX, DN trong khu phi thuế quan.
Thời hạn làm thủ tục hải quan là 15 ngày kể từ ngày thông quan hàng hóa XK. Người XK ghi rõ vào ô “Điểm đích cho vận chuyển bảo thuế” là mã địa điểm của Chi cục Hải quan làm thủ tục hải quan NK. Người NK chỉ được đưa hàng hóa vào sử dụng sau khi hàng hóa NK đã được thông quan. Cơ quan Hải quan làm thủ tục NK sẽ theo dõi thông tin tờ khai XK trên Hệ thống. Hàng tháng lập danh sách các tờ khai NK tại chỗ gửi cho cơ quan Thuế đối với hàng hóa XNK tại chỗ theo chỉ định của thương nhân nước ngoài (thay vì từng lần như trước đây).
Riêng đối với DN ưu tiên, DN tuân thủ pháp luật hải quan, khi làm tục hải quan đối với hàng hóa XK, NK tại chỗ sẽ được giao nhận hàng hóa trước, khai hải quan sau. Việc khai hải quan được thực hiện trong thời hạn tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày giao nhận, thực hiện chính sách thuế, chính sách quản lý hàng hóa XNK thực hiện tại thời điểm đăng ký tờ khai. Được đăng ký tờ khai hải quan XK, NK tại chỗ tại 1 Chi cục Hải quan thuận tiện, không bị kiểm tra thực tế hàng hóa, tuy nhiên phải có chứng từ chứng minh việc giao nhận hàng hóa.

Chủ kho tự theo dõi thanh khoản hợp đồng thuê kho ngoại quan
Điều 91 dự thảo Thông tư quy định cụ thể các tiêu chí đối với hàng từ nước ngoài nhập kho ngoại quan: Khai theo loại hình C11 (có sửa đổi các chỉ tiêu thông tin không phù hợp); Hàng đưa từ khu phi thuế quan hoặc từ nội địa nhập kho ngoại quan: Hải quan giám sát nhập kho trên cơ sở tờ khai XK; Hàng hóa nhập, xuất kho: Chủ kho phải cập nhật thông tin vào phần mềm quản lý của chủ kho và gửi đến Chi cục Hải quan quản lý kho ngoại quan.
Chủ kho ngoại quan tự chịu trách nhiệm theo dõi, thanh khoản hợp đồng thuê kho ngoại quan với chủ hàng hóa. Chi cục Hải quan chịu trách nhiệm theo dõi hàng hóa nhập, xuất, tồn kho.
Bên cạnh đó, dự thảo Thông tư cũng bổ sung các nội dung khác quy định tại Thông tư 94/2014/TT-BTC và quy định hàng xuất kho ngoại quan để xuất ra nước ngoài phải lập Danh mục hàng hóa xuất kho ngoại quan và khai vận chuyển độc lập. Giám sát xuất kho trên cơ sở tờ khai NK đối với hàng hoá xuất kho ngoại quan để NK vào nội địa hoặc NK vào khu phi thuế quan.
Báo cáo về hiện trạng hàng hóa trong CFS theo từng quý
Điều 92 dự thảo Thông tư chung quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK đưa vào kho CFS (là nơi thu gom hàng lẻ, được tập trung lại để đóng hàng vào container, XK bằng đường biển): Cơ quan Hải quan quản lý kho CFS tiếp nhận lô hàng, kiểm tra đối chiếu thông tin về tờ khai trên hệ thống và kiểm tra thực tế hàng hóa theo đề nghị của Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai.
Thủ tục hải quan đối với hàng hóa NK đưa vào kho CFS: Hải quan giám sát hàng hóa đưa vào kho CFS trên cơ sở tờ khai vận chuyển đã được Chi cục Hải quan cửa khẩu phê duyệt và vận đơn do chủ kho CFS xuất trình. 
Việc đóng ghép chung container phải được lập Danh mục hàng hóa đóng ghép chung container các lô hàng XK.
Việc quản lý hàng nhập kho CFS: Hàng hóa NK đưa vào CFS được theo dõi, quản lý theo từng vận đơn tổng (Master Bill). Hàng hóa XK đưa vào kho CFS nếu quá thời hạn gửi kho CFS không thực xuất thì phải xử lý. Hàng quý, chủ kho CFS phải báo cáo về hiện trạng hàng hóa và tình hình hoạt động của CFS, trừ trường hợp có sử dụng phần mềm quản lý kết nối với cơ quan Hải quan. 

Hàng hoá XNK đăng ký tờ khai hải quan một lần
Quy định về hàng hoá XNK đăng ký tờ khai hải quan một lần tại Điều 93 dự thảo Thông tư chung quy định việc giao nhận trước, đăng ký tờ khai hải quan sau đối với một số mặt hàng: Điện năng XK, NK; Hàng hóa bán trong khu vực cách ly tại các sân bay quốc tế (trừ hàng bán miễn thuế); Hàng hóa bán trên chuyến bay tuyến quốc tế; Xăng dầu cung ứng cho tàu bay xuất cảnh; và các trường hợp hàng hóa XNK tại chỗ thực hiện việc giao nhận hàng hóa nhiều lần trong ngày hoặc trong tháng.
Thủ tục hải quan đối với loại hình này sẽ phải thực hiện khai hải quan trên tờ khai điện tử và phải nộp Bảng tổng hợp các chứng từ chứng nhận từng lần giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên, loại hình này không phải kiểm tra thực tế hàng hóa.
Đáp ứng quy định tại khoản 8 Điều 25 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, dự thảo Thông tư cũng quy định việc đăng ký tờ khai trước, giao nhận sau cho phép khai bổ sung (nếu có) thông tin chính xác về lô hàng sau khi hoàn thành việc giao nhận, đồng thời bãi bỏ Phiếu theo dõi XNK nhiều lần.

Thủ tục hải quan đối với hàng hoá đưa ra, đưa vào cảng trung chuyển:
Tại Điều 88 dự thảo Thông tư đã bãi bỏ quy định cơ quan Hải quan chỉ kiểm tra số lượng container, đối chiếu số ký hiệu của container với nội dung Bản kê.
Đối với thủ tục hải quan đối với hàng hoá kinh doanh chuyển khẩu:
Điều 89 dự thảo Thông tư bổ sung đối với trường hợp hàng hoá kinh doanh chuyển khẩu được vận chuyển từ nước XK đến nước NK, có đưa vào khu vực kho bãi thuộc các cảng biển Việt Nam (không đưa vào kho ngoại quan, không đưa vào khu vực trung chuyển hàng hoá).

(Nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

Mở hơn về thủ tục đối với hàng hóa của doanh nghiệp chế xuất

(HQ Online)- Không phải làm thủ tục hải quan khi giao nhận nguyên liệu giữa hai doanh nghiệp chế xuất (DNCX) khi hàng hóa NK từ nước ngoài vào khu phi thuế quan hoặc khi bán ra nội địa, bán sang khu phi thuế quan khác… Đó là những quy định mới tại dự thảo Thông tư hướng dẫn Luật Hải quan 2014 (Thông tư chung).
Hoạt động sản xuất của Công ty Toto tại Việt Nam. Ảnh: HỮU LINH 
 
Phân tích những nội dung quy định về DNCX, đại diện của Cục Giám sát quản lý về hải quan cho biết, trên cơ sở đã hướng dẫn về thủ tục hải quan đối với DNCX tại Điều 49 Thông tư 128/2013/TT-BTC và Điều 24 Thông tư 22/2014/TT-BTC, dự thảo Thông tư chung thống nhất theo hướng quy định thủ tục hải quan theo mục đích sản xuất và quản lý theo phương thức xuất- nhập- tồn. Đồng thời hướng dẫn thống nhất để DNCX chốt tồn và chuyển làm thủ tục theo đúng mục đích sản xuất.
Cùng với đó, dự thảo Thông tư còn tạo điều kiện cho DN trong việc quy định DNCX tự lưu định mức và xuất trình khi cơ quan Hải quan yêu cầu (như đối với DN nhập nguyên liệu để sản xuất hàng hóa XK, gia công cho đối tác nước ngoài). Hay quy định khi mua bán, thanh lý DNCX không phải làm thủ tục hải quan trong trường hợp hàng hóa DNCX mua từ nội địa hoặc NK từ nước ngoài đã nộp đủ các loại thuế theo quy định.
Đặc biệt, quy định còn tạo điều kiện hơn về thủ tục gia công giữa 2 DNCX, không yêu cầu phải làm thủ tục hải quan khi giao nhận nguyên liệu, vật tư, sản phẩm trong quá trình thực hiện hợp đồng gia công, tuy nhiên phải báo cáo nhập - xuất - tồn đối những hàng hóa này định kỳ cùng với báo cáo nhập - xuất - tồn nguyên liệu, vật liệu NK theo mục đích sản xuất.
Theo đó, việc báo cáo hàng hóa NK từ nước ngoài, mua từ nội địa theo mục đích tiêu dùng, DNCX trong khu chế xuất hay ngoài khu chế xuất đều thực hiện báo cáo số lượng hàng hóa tiêu dùng NK từ nước ngoài và mua từ nội địa. Hiện nay, chỉ DNCX ngoài khu mới phải báo cáo nội dung này. Tuy nhiên, chính sách quản lý đối với DNCX trong khu và ngoài khu không khác nhau, bộ phận giám sát cổng khu chế xuất chỉ giám sát khi cần thiết theo quyết định của Cục trưởng cục Hải quan.
Cụ thể, tại Điều 73 dự thảo Thông tư quy định: hàng hóa XNK, luân chuyển của DNCX phải thực hiện thủ tục hải quan điện tử, và phải sử dụng đúng với mục đích sản xuất, trừ các trường hợp sau DNCX được lựa chọn thực hiện hay không thực hiện thủ tục hải quan điện tử, đó là: Hàng hóa mua bán giữa các DNCX với nhau; hàng hóa là nguyên vật liệu, văn phòng phẩm, lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng mua từ nội địa để phục vụ công trình, phục vụ cho bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại DNCX, hàng hóa luân chuyển trong nội bộ của một DNCX, luân chuyển giữa các DNCX trong cùng một khu chế xuất. Hàng hoá của các DNCX thuộc một tập đoàn hay hệ thống công ty tại Việt Nam, có hạch toán phụ thuộc; Hàng hoá đưa vào, đưa ra DNCX để thực hiện hợp đồng gia công, bảo hành, sửa chữa.
Trường hợp không làm thủ tục hải quan, DNCX lập và lưu trữ chứng từ, sổ chi tiết việc theo dõi hàng hoá đưa vào, đưa ra theo các quy định về chế độ kế toán, kiểm toán, trong đó xác định rõ mục đích, nguồn hàng hoá.
Hàng hóa DNCX mua từ nội địa hoặc NK từ nước ngoài đã nộp đầy đủ các loại thuế và đã thực hiện đầy đủ chính sách quản lý hàng hoá XNK theo quy định khi trao đổi, mua bán trong nội địa không phải làm thủ tục hải quan.
Đối với nguyên vật liệu NK để sản xuất, hàng hoá NK tạo tài sản cố định, hàng tiêu dùng NK: Thủ tục hải quan như loại hình kinh doanh thương mại; người khai phải khai đầy đủ thông tin tờ khai hải quan trên hệ thống trừ thông tin về mức thuế suất và số tiền thuế.
Đối với hàng hóa NK từ nước ngoài để xây dựng nhà xưởng, văn phòng, lắp đặt thiết bị cho DNCX: Thủ tục hải quan thực hiện theo loại hình kinh doanh thương mại. Trường hợp nhà thầu NK hàng hoá để xây dựng nhà xưởng, văn phòng, lắp đặt thiết bị cho DNCX, sau khi bàn giao công trình cho DNCX thì báo cáo lượng hàng hoá đã NK cho cơ quan Hải quan nơi quản lý DNCX theo mẫu.
Đối với hàng hóa mua, bán giữa DNCX với DN nội địa: DNCX, DN nội địa làm thủ tục hải quan XK, NK tại chỗ theo loại hình tương ứng.
Đối với hàng hoá mua, bán giữa hai DNCX: Trường hợp lựa chọn làm thủ tục hải quan thì thực hiện thủ tục XK, NK tại chỗ theo quy định.
Đối với phế liệu, phế phẩm được phép bán vào thị trường nội địa: Thủ tục hải quan thực hiện theo quy định đối với loại hình kinh doanh thương mại, DNCX làm thủ tục XK và DN nội địa mở tờ khai hải quan hàng hóa NK theo loại hình tương ứng.
Đối với hàng hóa của DNCX đã XK phải tạm nhập để sửa chữa, bảo hành sau đó tái xuất thực hiện như thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK nhưng bị trả lại theo quy định tại Điều 47 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
Tại Điều 77 dự thảo Thông tư quy định thủ tục hải quan đối với trường hợp DNCX thuê DN nội địa gia công, DNCX nhận gia công cho DN nội địa,
Hàng hoá do DNCX thuê DN nội địa gia công. Cụ thể: DN nội địa làm thủ tục hải quan theo quy định về gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài, DNCX không phải làm thủ tục hải quan khi đưa nguyên vật liệu vào nội địa để gia công và nhận lại sản phẩm gia công từ nội địa. Nếu đưa hàng hoá từ DNCX vào thị trường nội địa để gia công, bảo hành, sửa chữa nhưng không nhận lại hàng hoá thì phải đăng ký tờ khai mới để thay đổi mục đích sử dụng.
Đối với hàng hoá do DNCX nhận gia công cho DN nội địa, DN nội địa làm thủ tục hải quan theo quy định về đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài. DNCX không phải làm thủ tục hải quan khi nhận nguyên vật liệu từ nội địa để gia công và trả lại sản phẩm gia công vào nội địa.
Đối với hàng hoá do DNCX thuê DNCX khác gia công thì cả DNCX thuê gia công và DNCX nhận gia công không phải thực hiện thủ tục hải quan khi giao nguyên vật liệu và nhận sản phẩm gia công.
Riêng đối với thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK, NK theo quyền XK, quyền NK, quyền phân phối của DNCX, tại Điều 78 dự thảo Thông tư quy định: DNCX được thực hiện mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ phải thực hiện hạch toán riêng, không hạch toán chung vào hoạt động sản xuất; phải bố trí khu vực riêng để lưu giữ hàng hóa NK, XK theo quyền NK, quyền XK, quyền phân phối.
Thủ tục hải quan thực hiện theo quy định đối với hàng hóa XK, NK thương mại. Ngoài ra, thực hiện thêm các nội dung sau: DNCX phải khai tại ô “Số giấy phép” trên tờ khai điện tử thông tin số văn bản cho phép của cơ quan có thẩm quyền về hoạt động mua bán hàng hóa; Hàng hóa đã NK theo quyền NK khi bán cho DN nội địa không phải làm thủ tục hải quan; Khi bán cho DNCX khác hoặc bán cho DN trong khu phi thuế quan thì áp dụng thủ tục hải quan XNK tại chỗ theo quy định.
Thủ tục hải quan đối với hàng hóa của DNCX thực hiện quyền XK: Hàng hóa mua từ nội địa để XK không phải làm thủ tục hải quan, khi XK ra nước ngoài thủ tục hải quan thực hiện theo hàng hóa XK kinh doanh; Hàng hóa mua từ DNCX khác để XK, khi mua từ DNCX thực hiện thủ tục như DN nội địa mua hàng hóa của DNCX, khi XK làm thủ tục như đối với hàng hóa XK kinh doanh; thực hiện kê khai, tính thuế (nếu có).

Theo quy định tại Luật Hải quan 2014 và Nghị định 164/2013/NĐ-CP, dự thảo Thông tư đã quy định một số nội dung như: Đối với việc thành lập chi nhánh của DNCX khi thực hiện quyền kinh doanh: chỉ yêu cầu DNCX khi thực hiện quyền phải hạch toán riêng hoạt động này và tổ chức, lưu giữ hàng hóa riêng (không chung với hàng hóa DN sản xuất).
Việc thanh lý hàng hóa của DNCX theo hướng DNCX mở tờ khai chuyển đổi mục đích sử dụng, chính sách thuế, chính sách mặt hàng áp dụng tại thời điểm mở tờ khai chuyển mục đích sử dụng (trừ trường hợp tại thời điểm NK ban đầu đã thực hiện đầy đủ chính sách NK).

(Nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

Tổng cục Hải quan: Giải đáp về phần mềm và mục khai báo trên VNACCS

(HQ Online)- Để tạo thuận lợi hơn cho DN khi thực hiện khai báo thủ tục hải quan trên Hệ thống VNACCS, Tổng cục Hải quan đã ghi nhận và giải đáp một số vướng mắc của DN khi thực hiện thủ tục hải quan.
Công chức Hải quan Hải Phòng hướng dẫn DN mở tờ khai. Ảnh: H.NỤ 
 
Về phần mềm khai báo
Công ty LAFOOCO phản ánh, hiện nay, DN đang sử dụng phần mềm khai báo hải quan điện tử do Tổng cục Hải quan cấp, tuy nhiên, khi DN khai báo lại không lưu trữ được. Do đó, DN thắc mắc, liệu DN có mua phần mềm của công ty tư nhân để sử dụng được không?
Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan cho biết, theo quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 6 Thông tư 196/2012/TT-BTC và quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 6 Thông tư 22/2014/TT-BTC, DN được sử dụng phần mềm khai hải quan điện tử do cơ quan Hải quan cung cấp (nếu có) hoặc phần mềm khai hải quan điện tử đã được cơ quan Hải quan xác nhận tương thích với hệ thống và phù hợp với yêu cầu nghiệp vụ của cơ quan Hải quan. Tổng cục Hải quan nhấn mạnh, cơ quan Hải quan hỗ trợ miễn phí phần mềm khai báo hải quan điện tử cho DN thực hiện chức năng khai báo. Do đó, Tổng cục Hải quan khẳng định, phần mềm khai báo do cơ quan Hải quan cung cấp miễn phí trên hệ thống VNACCS có hỗ trợ tính năng lưu trữ.
Cũng phản ánh về phần mềm khai báo Công ty cổ phần tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành cho biết, tại ô 25 của mẫu tờ khai số HQ/2012-XK có thể hiện thông tin (a) khai số container… Tuy nhiên, khi thực hiện yêu cầu (a) khai số container, DN phải khai báo tờ khai XK trước ngày lấy vỏ container, kéo về nhà máy đóng hàng vài ngày, nên việc khai báo luôn số container là khó khăn, nếu lấy được số container sớm khai báo vào tờ khai nhưng sau đó gặp sự cố phải thay đổi lại số container; rồi trường hợp khai báo số container nhưng khi kéo về nhà máy phát hiện vỏ container bị hư hỏng phải kéo đi trả lấy số container mới. DN lý giải, trường hợp lấy số container về nhưng không đóng đúng mà đảo chuyển qua đóng container hàng khác (cùng hãng tàu),.... cuối cùng để có số container trên tờ khai khớp với thực tế buộc DN phải khai báo bổ sung lại thông tin. Tuy nhiên, nếu DN không khai báo bổ sung thông tin sẽ dẫn tới chậm chuyển hàng lên tàu, điều này làm thiệt hại thêm cho DN.
DN cho rằng, trong khi quy định cho phép tờ khai XK được khai trước 15 ngày kể từ ngày hoàn thành thông quan, như vậy việc DN chủ động khai báo trước không có tác dụng, bên cạnh đó nếu phải khai báo bổ sung lại số container mà rơi vào ngày nghỉ/tối thì tờ khai XK đó không có người duyệt (quy định hiện hành tờ khai XK khai báo bổ sung phải do Lãnh đạo Chi cục Hải quan tại nơi khai báo xem xét duyệt, thậm chí bị nâng từ luồng Xanh -> Vàng -> Đỏ). Do vậy, DN cho rằng, DN phải tốn thêm chi phí xin số container khai báo trước các lô hàng XK phải đóng buổi tối/ngày thứ 7/Chủ nhật.
Theo Tổng cục Hải quan, hàng hóa XK bằng container mà tại thời điểm khai báo XK DN không có số container hoặc không có khai báo bổ sung được số container trên hệ thống thì sau khi đóng hàng vào container DN thực hiện lập bảng kê số container của tờ khai XK, ký, đóng dấu xác nhận của DN để xuất trình tại khu vực giám sát của khẩu xuất. DN tự chịu trách nhiệm về danh sách container này.
Đối với những trường hợp phát sinh phải thay đổi số container đã khai báo trên tờ khai hải quan, DN có đề nghị điều chỉnh số container gửi Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất kèm lý do phải chuyển container. Trường hợp container thuộc diện đang niêm phong hải quan thì Chi cục Hải quan nơi mở tờ khai và Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất phối hợp để xử lý.
Để thuận lợi hơn cho việc khai báo của DN và công tác quản lý của cơ quan Hải quan liên quan đến quản lý số container, Tổng cục Hải quan cho biết, đang xây dựng chức năng cho phép DN khai báo danh sách container vào hệ thống trong các trường hợp để hỗ trợ bộ phận giám sát trong công tác xác nhận và sẽ có hướng dẫn cụ thể cho đơn vị hải quan địa phương để các đơn vị hướng dẫn DN thực hiện.
Công ty CP CBG Đức Thanh nêu vướng mắc, hiện nay phần mềm khai báo hải quan điện tử chưa có mục quy định trong trường hợp DN gửi một số mẫu không tính tiền cho khách hàng thì DN phải khai báo như thế nào?
Trả lời vấn đề này, Tổng cục Hải quan cho biết, DN gửi một số mẫu không tính tiền cho khách hàng thì khi khai báo hải quan DN khai báo các tiêu chí như hàng XK thông thường và theo đó, DN khai chỉ tiêu Mã miễn/giảm/không chịu thuế và số tiền giảm thuế XK tại tab “Detail”; tại ô “Phần ghi chú” tại tab “General” DN ghi rõ lý do số lượng mẫu gửi không tính tiền cho khách hàng tại mục nào của tab “Detail”.
Gộp các mục hàng trong VNACCS
Công ty TNHH 4P thắc mắc, hiện nay hệ thống khai VNACCS tự động ngắt lô hàng có nhiều mục hàng thành nhiều tờ khai nhánh, dẫn đến một lô hàng của DN bị chia ra rất nhiều tờ khai, gây mất thời gian, tốn kém và hầu như lô nào cũng bị kiểm hóa. Mặc dù, cơ quan Hải quan đã khắc phục bằng cách cho khai gộp các mục hàng có cùng tên gọi, nhưng việc khai gộp lại xảy ra nhiều bất cập trong thanh khoản đối với những tờ khai theo hình thức XNK vì định mức thì theo chi tiết từng mã nguyên phụ liệu, hệ thống không nhận biết để thanh khoản tự động được.
Tổng cục Hải quan cho rằng, về vướng mắc của DN nêu, Bộ Tài chính đã có công văn số 11802/BTC-TCHQ ngày 22-8-2014 hướng dẫn cụ thể. Tổng cục Hải quan đề nghị DN nghiên cứu, thực hiện. Tuy nhiên, Tổng cục Hải quan cho biết, để đơn giản hóa thủ tục kê khai, nộp thuế cho phép DN được lựa chọn sử dụng một lệnh chi/ ủy nhiệm chi (đối với trường hợp chuyển khoản) hoặc kê khai một giấy nộp tiền (đối với trường hợp nộp bằng tiền mặt) để nộp tiền một hoặc nhiều tờ khai hải quan theo mẫu. Tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước trực tiếp thu tiền, trích tiền từ tài khoản của người nộp thuế sẽ tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu của Cổng thông tin điện tử hải quan cập nhật các thông tin còn lại trên Giấy nộp tiền vào NSNN, thực hiện thu tiền, chuyển tiền cho từng tờ khai mà người nộp thuế đã kê khai.
Công ty TNHH công nghiệp chính xác Việt Nam 1 phản ánh, khi khai báo trên VNACCS đối với hàng luồng Xanh vẫn mất nhiều thời gian cho thủ tục ký, đóng dấu qua giám sát? DN cho rằng, tại sao thủ tục hải quan điện tử luồng Xanh vẫn bắt DN phải ký, đóng dấu giám sát trên tờ khai giấy? Do đó, DN đề nghị Tổng cục Hải quan xem xét nên quy định xử lý toàn bộ các quy định trên hệ thống để DN đỡ mất thời gian ký, giám sát qua hồ sơ giấy.
Theo Tổng cục Hải quan, theo quy định hiện hành và một số văn bản quy phạm pháp luật hiện nay, việc làm thủ tục ký, đóng dấu qua khu vực giám sát trên tờ khai giấy vẫn là cần thiết vì mục đích để DN làm căn cứ pháp lý thực hiện các thủ tục khác sau khi hoàn thành thủ tục thông quan hàng hóa như: cấp giấy chứng nhận xuất xứ (đối với hàng hóa XK), chứng từ đi đường (đối với hàng hóa NK), chứng từ hoàn thuế tại cơ quan Hải quan, cơ quan Thuế, thanh toán ngoại tệ qua ngân hàng.

(Nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Tiếp tục nâng mức tự động hóa hoạt động hải quan, giảm thời gian thông quan

(HQ Online)- Tổng cục Hải quan vừa ban hành kế hoạch chi tiết triển khai các nhiệm vụ cải cách, hiện đại hóa năm 2015 (theo Quyết định 436/QĐ-TCHQ ngày 5-3-2015) với nhiều mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng.
Tự động hóa giúp DN giảm thiểu việc phải giao dịch trực tiếp ở trụ sở cơ quan Hải quan. Ảnh: T.BÌNH 
 
Nổi bật trong đó là: nâng cao hơn nữa mức độ tự động hóa về thu nộp ngân sách; cấp giấy phép chuyên ngành; giảm thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa… Đây chính là những hành động cụ thể, quyết liệt của Tổng cục Hải quan trong nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo chỉ đạo của Chính phủ.
Trong phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 2-2015, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo: Đến hết năm 2015, các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh của nước ta đạt và vượt mức trung bình của các nước ASEAN-6. Trong đó, thời gian nộp thuế còn 121,5 giờ (hiện là 247 giờ); thời gian nộp bảo hiểm xã hội còn 49,5 giờ (hiện là 235 giờ); số DN kê khai thuế điện tử đạt 95%, nộp thuế điện tử tối thiểu 90%; giảm mạnh thời gian thông quan với hàng xuất khẩu (tối đa 13 ngày), hàng nhập khẩu (14 ngày); thành lập DN tối đa 6 ngày; tiếp cận điện năng còn 36 ngày (hiện là 70 ngày); phá sản DN còn 30 tháng (hiện là 60 tháng).
Một nhiệm vụ quan trọng để góp phần nâng cao sức cạnh tranh quốc gia được Thủ tướng đề cập chính là vấn đề giảm thời gian thông quan hàng hóa, thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia. Thủ tướng lấy ví dụ việc kết nối Cổng Thông tin một cửa quốc gia giữa Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) và 8 bộ, ngành (Công Thương, Y tế, KH&CN, NN&PTNT...) để giảm thời gian thông quan hiện còn chậm trong khi có thể đẩy nhanh hơn. Vì vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu làm rõ nhiệm vụ của ai, vướng mắc ở đâu? Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh: Với trang thiết bị của hệ thống Hải quan hiện đại, Việt Nam hoàn toàn cạnh tranh được với các nước ASEAN, tạo thuận lợi rất nhiều cho DN. Việc giải quyết dứt điểm từng vấn đề trong cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia có ý nghĩa quyết định đối với phát triển bền vững, hội nhập sâu rộng.
Quán triệt chỉ đạo của Thủ tướng và lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã ban hành kế hoạch chi tiết triển khai các nhiệm vụ cải cách, hiện đại hóa năm 2015 với nhiều mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng. Theo Ban Cải cách hiện đại hóa hải quan (Tổng cục Hải quan)- đơn vị chủ trì xây dựng kế hoạch cải cách, hiện đại hóa năm 2015, để cụ thể hóa các mục tiêu theo yêu cầu của Chính phủ, trong năm nay, Tổng cục Hải quan đã định lượng cụ thể các công việc trọng tâm cần đẩy mạnh triển khai để tiếp tục giảm thời gian thông quan, tạo thuận lợi cho cộng đồng DN. Cụ thể như, đảm bảo từ 90% đến 95% số thu nộp thuế, lệ phí được thực hiện bằng phương thức điện tử; tỷ lệ các giấy phép trong hoạt động XNK thực hiện trong Cơ chế một cửa quốc gia đạt 50%; tỷ lệ kiểm tra chi tiết hồ sơ tối đa 15% tổng số tờ khai; tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá dưới 10% tổng số tờ khai; tỷ lệ các lô hàng được xác định kiểm tra thực tế hàng hoá trên cơ sở phân tích đánh giá rủi ro đạt 60%... Thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá qua máy soi container từ 3 đến 5 phút; kiểm tra thủ công kết hợp kiểm tra qua máy soi container từ 30 đến 60 phút…
Phó Trưởng ban cải cách hiện đại hóa hải quan Kim Long Biên cho biết, bên cạnh những chỉ tiêu cụ thể, các nhiệm vụ khác đã về đích sớm (so với Kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hóa giai đoạn 2011-2015) sẽ được tiếp tục nâng cao hiệu quả hơn nữa. Cụ thể, đối với thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hoạt động trên Hệ thống VNACCS/VCIS, nâng cấp và hoàn thiện các hệ thống CNTT vệ tinh; triển khai Cơ chế một cửa quốc gia với các bộ, ngành liên quan để hoàn thành thực hiện các mục tiêu 5e (e-Clearance, e-Payment, E-Manifest, e-C/O, e-Permit) trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử. Rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa ở cả 3 luồng Xanh, Vàng, Đỏ; nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hệ thống máy móc trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát đã được trang bị…
Đối với công tác kiểm tra sau thông quan sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiệp vụ quan trọng này và phấn đấu bước đầu ứng dụng CNTT phục vụ công tác “hậu kiểm”, xây dựng được bộ tiêu chí quản lý rủi ro cho kiểm tra sau thông quan, phối hợp liên tục, chặt chẽ hơn nữa giữa khâu kiểm tra trong và kiểm tra sau thông quan.
Bên cạnh đó, một loạt các hoạt động nghiệp vụ quan trọng khác như chống buôn lậu; quản lý rủi ro; quản lý nguồn nhân lực… cũng được Tổng cục Hải quan đã và đang tích cực đẩy mạnh. Ông Kim Long Biên phân tích, các hoạt động này sẽ góp phần đồng bộ hóa và góp phần nâng cao hiệu quả trong điện tử hóa các hoạt động hải quan. Trong đó, công tác điều tra chống buôn lậu sẽ đẩy mạnh hơn nữa vào việc chống buôn lậu, gian lận thương mại trong việc ngăn chặn các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm trong thực hiện thông quan hàng hóa qua môi trường điện tử bằng việc đẩy mạnh ứng dụng các trang thiết bị nghiệp vụ hiện đại. Hoạt động quản lý rủi ro được tiếp tục hoàn thiện về cơ sở pháp lý và quy trình, quy định; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý tuân thủ doanh nghiệp, chú trọng hơn nữa khâu thu thập, xử lý thông tin nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác áp dụng quản lý rủi ro. Về quản lý nguồn nhân lực, Tổng cục Hải quan đang đẩy nhanh việc triển khai mô tả, ứng dụng xác định vị trí việc làm phục vụ quản lý công việc theo vị trí việc làm và quản lý nhân sự, xác định biên chế và các ứng dụng đổi mới quản lý nguồn nhân lực…
Cũng theo ông Kim Long Biên, để triển khai hiệu quả các nội dung công việc nêu trên, Tổng cục Hải quan đã và đang chỉ đạo các đơn vị thuộc, trực thuộc tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ: Kiện toàn lại ban/tổ cải cách hiện đại hóa của từng đơn vị, nhằm xác định đầu mối, tổ chức triển khai công tác hiện đại hóa. Lãnh đạo Tổng cục cũng yêu cầu lãnh đạo các đơn vị cần quan tâm, quán triệt đến toàn thể đội ngũ CBCC trong nêu cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong tổ chức triển khai đầy đủ các nội dung của công tác hiện đại hóa.
Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đã hướng dẫn các đơn vị trong toàn Ngành xây dựng chương trình hiện đại hóa trọng tâm năm 2015 tập trung vào 3 nội dung quan trọng: Rà soát kế hoạch thực hiện năm 2015 của Tổng cục và từng đơn vị, qua đó tập trung nguồn lực triển khai một cách hiệu quả, đạt chỉ tiêu đề ra theo chỉ đạo của Tổng cục; chuẩn bị tổng kết việc thực hiện Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa giai đoạn 2011-2015; xây dựng phương hướng cải cách, phát triển và hiện đại hóa trong giai đoạn 2016-2020 với các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp cụ thể, trong đó cần bám sát chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.

Để tiếp tục thực hiện hiệu quả chỉ đạo của Chính phủ trong cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Tổng cục Hải quan đặt mục tiêu: Năm 2015, nâng cao năng lực kiểm tra, kiểm soát Hải quan; giảm thời gian thông quan bằng mức trung bình các nước ASEAN-6; triển khai thành công Cơ chế một cửa quốc gia hướng tới một cửa ASEAN; năm 2016, giảm thời gian thông quan bằng mức trung bình các nước ASEAN-4; đến năm 2020, đạt trình độ quản lý hải quan ngang bằng mức độ của Hàn Quốc năm 2010, theo đó, thủ tục hải quan được thực hiện mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện.

(Nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Đề nghị triển khai thí điểm niêm phong hải quan điện tử

(HQ Online)- Trường Hải quan Việt Nam vừa có tờ trình gửi Tổng cục Hải quan đề nghị triển khai thí điểm áp dụng niêm phong hải quan điện tử (eSeal) tại tuyến đường Thái Lan, Lào, Việt Nam (cửa khẩu Lao Bảo, Huế, Đà Nẵng) với thời gian thí điểm 3 tháng, tính từ tháng 4-2015.
Niêm phong hải quan điện tử. Nguồn: Internet. 
 
Theo Trường Hải quan Việt Nam, eSeal là công cụ không những hỗ trợ đắc lực cho kiểm soát hàng hóa vận chuyển xuyên biên giới, giữa các khu công nghiệp, các cửa khẩu nội địa mà còn góp phần tạo thuận lợi thương mại trong khối ASEAN. ESeal đảm bảo an ninh, an toàn đối với hàng hóa được vận chuyển, đáp ứng các yêu cầu quản lý hải quan nhờ việc chưa sẻ thông tin, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan và ứng dụng công nghệ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu và khả năng áp dụng đối với các DN và các nhà cung cấp dịch vụ logistics.
ESeal tích hợp 3 ưu điểm chính như: Niêm phong lô hàng, cập nhật danh mục hàng hóa bằng sóng vô tuyến, liên lạc và định vị vệ tinh (sử dụng công nghệ GPS/GPRS) để các bên liên quan theo dõi, cảnh báo trực tuyến, không phải đầu tư phần mềm hay công nghệ phức tạp mà chỉ cần kết nối internet khi được cung cấp User name và password.
Do đó, eSeal đóng vai trò như Manifest điện tử của lô hàng được vận chuyển từ khi khởi hành đến điểm kết thúc bao gồm các thông tin như: Tên hàng hóa, trọng lượng, tình trạng niêm phòng esael, an ninh và an toàn của hàng hóa, kiểm soát lộ trình, thời gian vận chuyển…
Trường Hải quan Việt Nam cũng cho biết, với chi phí khoảng 10 đô la cho mỗi lần thuê 1 eSeal cho chuyến vận chuyển hàng hóa từ 15 đến 45 ngày là mức chi phí có thể chấp nhận được so với các lợi ích mà  eSeal mang lại khi hàng hóa được thông quan nhanh với tỷ lệ được phân vào luồng xanh cao, chủ hàng theo dõi được hàng hóa vận chuyển, DN vận tải theo dõi được lộ trình và quản lý sự tuân thủ của lái xe một cách trực tuyến.
Tuy nhiên, để có thể triển khai thực hiện eSeal tại Việt Nam, Trường Hải quan Việt Nam đề nghị Tổng cục Hải quan cho phép thực hiện tuyến đường thí điểm găn eSeal là tuyến đường Thái Lan, Lào, Việt Nam (cửa khẩu Lao Bảo, Huế, Đà Nẵng), dự kiến thời gian thí điểm là 3 tháng kể từ tháng 4-2015 với 50 container thí điểm gắn eSeal.
Bên cạnh đó, Trường Hải quan Việt Nam sẽ phối hợp với Cục Giám sát quản lý về hải quan, Cục CNTT, Cục Điều tra chống buôn lậu, Vụ Hợp tác quốc tế, các Cục Hải quan: Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng.
Trường Hải quan Việt Nam cũng cho biết, kinh phí thí điểm dự kiến khoảng 50 triệu đồng. Nhà trường sẽ liên hệ xin hỗ trợ của Công ty Tiffa EDI Thái Lan để được hỗ trợ cung cấp eSeal.
 
(Nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Mở rộng kết nối Cơ chế một cửa với Bộ Giao thông Vận tải

(HQ Online)- Ngày 11-3, tại trụ sở Bộ Giao thông Vận tải, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Hồng Trường và Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc đồng chủ trì buổi làm việc với các cơ quan liên quan của 2 đơn vị về thực hiện mở rộng kết nối thủ tục hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải vào Cơ chế một cửa quốc gia (NSW).
Quang cảnh buổi làm việc. Ảnh: Tuấn Dũng. 
 
Theo Bộ Giao thông Vận tải, từ thời điểm kết nối chính thức NSW (ngày 12-11-2014) giữa Bộ Giao thông Vận tải với Bộ Tài chính để giải quyết thủ tục hành chính đối với tàu biển xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh tại khu vực cảng Hải Phòng, đến nay, Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng đã tiếp nhận, xử lý 279 hồ sơ thông quan NSW của 3 đại lý tàu biển. Bộ Giao thông Vận tải đánh giá, do thời gian đầu mới triển khai thí điểm nên các bên liên quan vẫn phải bổ sung, hoàn thiện chức năng, quy trình, do đó, số lượng thủ tục hành chính thực hiện qua NSW chưa nhiều.
Song song với việc hoàn thiện quy trình áp dụng tại khu vực cảng Hải Phòng, Bộ Giao thông Vận tải đang triển khai kế hoạch mở rộng kết nối NSW tại Cảng vụ Hàng hải TP.HCM và Bà Rịa- Vũng Tàu. Theo đó, Bộ này đã tích cực phối với nhà thầu (về CNTT) hoàn thành xây dựng hệ thống CNTT của Bộ Giao thông Vận tải, tổ chức đào tạo, tập huấn sử dụng cho CBCC tại 2 cảng vụ nêu trên.
Việc chuẩn bị để triển khai chính thức tại 2 cảng vụ hàng hải TP.HCM và Bà Rịa- Vũng Tàu đã được ngành Giao thông vận tải sẵn sàng. Để đẩy nhanh, tiến độ triển khai NSW trong lĩnh vực hàng hải, Bộ Giao thông Vận tải đề nghị các bộ, ngành liên quan (Quốc phòng, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tham gia toàn diện vào xử lý thủ tục hành chính trên cổng thông tin điện tử NSW; đồng thời cơ quan chức năng cần nghiên cứu triển khai NSW tại Cảng vụ Hàng hải Đà Nẵng.
Ngoài lĩnh vực hàng hải, lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải cũng tập trung chỉ đạo Cục Đăng kiểm Việt Nam chuẩn bị các điều kiện về cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ việc thực hiện NSW đối với thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đăng kiểm gồm: Thủ tục cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng nhập khẩu; cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe mô tô, xe gắn máy nhập khẩu và động cơ nhập khẩu dùng để sản xuất, lắp ráp xe mô tô, xe gắn máy; cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu.
Phát biểu tại buổi làm việc, Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường và Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc khẳng định vai trò quan trọng của NSW trong thực hiện cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực XNK. Do đó, vấn đề triển khai một cách nhanh chóng, hiệu quả là yêu cầu bức thiết.
Về thực hiện NSW với lĩnh vực giao thông vận tải, Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường cho biết, mục tiêu mà lãnh đạo Bộ này đặt ra là chuẩn bị tích cực và triển khai một cách đồng bộ tất cả các thủ tục liên quan tại cả đường biển, đường không và đường bộ. Trước mắt, tập trung nguồn lực để thực hiện đồng bộ, hiệu quả trên các hệ thống cảng vụ hàng hải, tiếp đó, tích cực chuẩn bị để thực hiện kết nối tại các cảng hàng không và cửa khẩu đường bộ.
Đồng tình với quan điểm chỉ đạo quyết liệt của Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường, Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc chia sẻ: Với vai trò là Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo quốc gia về NSW và Cơ chế một cửa ASEAN, thời gian vừa qua, Tổng cục Hải quan rất tích cực trong việc phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải và các bộ, ngành liên quan để thực hiện NSW theo đúng lộ trình kế hoạch đặt ra. Những kết quả đạt được vừa qua là tiền đề quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến NSW trong năm 2015.
Lãnh đạo Tổng cục Hải quan sẽ chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ tiếp tục phối hợp một cách chặt chẽ với Bộ Giao thông Vận tải và các bộ, ngành để đảm bảo thực hiện NSW một cách hiệu quả theo các chỉ đạo của Ban chỉ đạo quốc gia, đáp ứng yêu cầu tạo thuận lợi cho cộng đồng DN và cam kết của Chính phủ trong kết nối Cơ chế một cửa ASEAN.
 
(Nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thông quan hàng hóa XNK: Giảm nhiều giờ khi có VNACCS/VCIS

(HQ Online)- Đơn giản hóa quy trình, thủ tục; hiện đại hóa trang thiết bị để giảm thời gian thông quan hàng hóa là những bước đi tích cực của ngành Hải quan trong thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Áp dụng Hệ thống VNACCS/VCIS đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong giảm thời gian thông quan hàng hóa. Ảnh: T.Bình. 
 
Giảm nhiều giờ
Vấn đề được Chính phủ và cả cộng đồng DN tham gia hoạt động XNK đặc biệt quan tâm là giảm thời gian thông quan hàng hóa. Theo Tổng cục Hải quan, mặc dù mới áp dụng chính thức Hệ thống VNACCS/VCIS được gần một năm nhưng thời gian giải quyết thủ tục của cơ quan Hải quan đã có những cải thiện bước đầu hết sức tích cực.

Đối với e-Manifest, được triển khai thí điểm tại 9 Cục Hải quan có cảng biển, thu hút 42/597 hàng tàu (chiếm 7,03%), 410/500 đại lý hãng tàu (chiếm 82%), với sự tham gia của 1.536 công ty giao nhận, tiếp nhận 31.215 hồ sơ điện tử.

Theo kết quả đo thời gian giải phóng hàng do Tổng cục Hải quan thực hiện (vào cuối năm 2014) tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn KV1 (Cục Hải quan TP.HCM) - đơn vị có khối lượng công việc lớn nhất toàn Ngành, thời gian đăng ký tờ khai hải quan chỉ còn khoảng 3 giây; thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp đăng ký tờ khai đến khi quyết định thông quan/giải phóng hàng đối với hàng nhập khẩu chỉ còn là 34 giờ 32 phút 14 giây.
So với kết quả năm 2013, khoảng thời gian này đã giảm được 7,6 giờ tương đương 18% so với cùng kỳ năm 2013 (cùng thời điểm năm 2013 thời gian này là 42 giờ 7 phút 40 giây).
Đối với hàng hóa xuất khẩu, thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp đăng ký tờ khai đến khi quyết định thông quan đối là 6 giờ 58 phút 55 giây, giảm 9,6 giờ tương đường 58% so với năm 2013 (năm 2013 là 16 giờ 36 phút 10 giây).
Đặc biệt, với lô hàng được phân luồng Xanh, không phải nộp thuế thì thời gian thông quan/giải phóng hàng chỉ vỏn vẹn có 4 giây.
Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan cũng đang tích cực điện tử hóa mạnh mẽ các thủ tục liên quan đến thu, nộp ngân sách; Cơ chế một cửa quốc gia hay e-Manifest… những động thái sẽ mang lại những tác động tích cực về tổng thể trong thời gian thông quan hàng hóa.

Hướng tới trình độ tiên tiến của Hàn Quốc
Tổng cục Hải quan  đánh giá, hầu hết các mục tiêu, giải pháp do Chính phủ đặt ra đối với ngành Hải quan để thực hiện Nghị quyết 19/NQ-CP, Chỉ thị 24/CT-TTg đã được triển khai hiệu quả.
Tuy nhiên, nhiệm vụ cải cách, hiện đại hóa, tạo thuận lợi cho DN là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, liên tục đối với cơ quan Hải quan. Và những mục tiêu mà Tổng cục Hải quan hướng tới là tiệm cận trình độ các nước có nền hải quan hiện đại trong khu vực và trên thế giới.
Theo đó, Tổng cục Hải quan đặt mục tiêu: Năm 2015, nâng cao năng lực kiểm tra, kiểm soát Hải quan; giảm thời gian thông quan bằng mức trung bình các nước ASEAN-6; triển khai thành công Cơ chế một cửa quốc gia hướng tới một cửa ASEAN; năm 2016, giảm thời gian thông quan bằng mức trung bình các nước ASEAN-4; đến năm 2020, đạt trình độ quản lý hải quan ngang bằng mức độ của Hàn Quốc năm 2010, theo đó, thủ tục hải quan được thực hiện mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện.

Theo Tổng cục Hải quan, đến nay, toàn Ngành đã chính thức thực hiện Cổng thanh toán điện tử phiên bản 2014 tại 34/34 Cục Hải quan địa phương, tiếp nhận thông tin thu từ 17 ngân hàng thương mại có ký thỏa thuận phối hợp thu với tần suất gần như tức thời qua phương thức trực tuyến (online) và từ Kho bạc (tới cơ quan Hải quan) với tần suất 15 phút/lần; tự động hạch toán kế toán, thanh khoản nợ, thông quan hàng hóa cho doanh nghiệp XNK với số thu chiếm 59% tổng thu ngân sách toàn Ngành…

(Nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

VNACCS/VCIS - Thúc đẩy hội nhập quốc tế, tăng sức cạnh tranh quốc gia

(HQ Online)- Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS không chỉ đơn thuần mang lại tiện ích cho cộng đồng DN và cơ quan Hải quan mà ở một góc độ rộng hơn, Hệ thống còn góp phần quan trọng vào tiến trình hội nhập quốc tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tăng sức cạnh tranh quốc gia.
Việc thực hiện Hệ thống VNACCS/VCIS nhận được sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trong ảnh: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm quan Trung tâm Quản lý và vận hành CNTT hải quan- nơi tập trung hóa và xử lý dữ liệu VNACCS/VCIS trên phạm vi cả nước (tháng 7-2014). Ảnh: HỮU LINH 
 
VNACCS/VCIS là tên gọi tắt của Dự án “Xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện Cơ chế hải quan một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa hải quan”. Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 2 mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lại một lần nữa đề cập đến vai trò quan trọng của Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) như một ví dụ điển hình cho việc cải thiện, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh: Với trang thiết bị của hệ thống Hải quan hiện đại, Việt Nam hoàn toàn cạnh tranh được với các nước ASEAN, tạo thuận lợi rất nhiều cho DN.
Theo Bộ Tài chính, Hệ thống VNACCS/VCIS được Chính phủ đánh giá rất cao hiệu quả đa chiều không chỉ đơn lẻ trong hoạt động giữa cơ quan Hải quan và DN mà ở cả tầm rộng lớn hơn với lợi ích quốc gia. Phân tích rõ hơn về điều này, Bộ Tài chính cho rằng, thực hiện thành công VNACCS/VCIS giúp hiện thực hóa các mục tiêu cải cách, hiện đại hóa hải quan được Chính phủ đặt ra trong Chiến lược phát triển hải quan giai đoạn 2011- 2020, cũng như cam kết của Chính phủ Việt Nam về thực hiện NSW và Cơ chế một cửa ASEAN. Do đó, triển khai thành công Hệ thống có tính chất quyết định tới thành công của các hoạt động tiếp theo trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa hải quan cũng như NSW và Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn tới.
Bộ Tài chính đánh giá, VNACCS/VCIS không chỉ tác động trực tiếp đến Tổng cục Hải quan, các bộ, ngành liên quan mà còn có tác động lan tỏa tới cộng đồng DN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, vận tải quốc tế như là minh chứng về cam kết của Chính phủ trong tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại và hỗ trợ DN. Ở bình diện quốc gia, với mức độ tự động hóa cao, trình độ tiên tiến với nền tảng CNTT của một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới như Nhật Bản, VNACCS/VCIS trực tiếp nâng cao hiệu quả thông quan hàng hóa XNK, góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Đặc biệt, Hệ thống không chỉ phục vụ công tác quản lý Nhà nước về hải quan mà còn tạo nên khung pháp lý bền vững trên nền tảng nội luật hóa các cam kết quốc tế, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế trong hoạt động hải quan. Bộ Tài chính đưa ra ví dụ, chính những kết quả tích cực trong thực hiện VNACCS/VCIS là nguồn tư liệu quan trọng góp phần phục vụ sửa đổi Luật Hải quan 2014 (được Quốc hội thông qua ngày 23-6-2014) và xây dựng kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hóa hải quan giai đoạn tới trong Chiến lược phát triển hải quan đến năm 2020. Ngoài ra, những kết quả thành công bước đầu của VNACCS/VCIS mang lại chính là những bước đi đầu tiên nhằm hiện thực hóa NSW, đảm bảo kết nối Cơ chế một cửa ASEAN của Việt Nam đúng lộ trình. Trên bình diện quốc tế và khu vực, quá trình thực hiện VNACSC/VCIS cũng giúp Việt Nam có thêm nhiều đóng góp tích cực vào hoàn thiện khung khổ pháp lý, quy trình thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật… trong khuôn khổ triển khai Cơ chế một cửa ASEAN.
Với cộng đồng DN và cơ quan Hải quan, lợi ích mang lại đã được kiểm chứng một cách cụ thể, thiết thực qua gần 1 năm thực hiện chính thức Hệ thống. Đó là, giúp DN rút ngắn thời gian thông quan, giảm thiểu chi phí, thủ tục được chuẩn hóa theo chuẩn mực quốc tế… nhờ mức độ tự động hóa cao của Hệ thống. Đối với cơ quan Hải quan, VNACSC/VCIS góp phần nâng cao năng lực quản lý, hỗ trợ đắc lực trong việc áp dụng các phương thức quản lý hải quan hiện đại, cụ thể hóa các mục tiêu phát triển, hiện đại hóa để sớm bắt kịp trình độ hải quan các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Nhằm hoàn thiện Hệ thống VNACCS/VCIS như NACCS/CIS của Nhật Bản để góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Chính phủ trong tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, mới đây Tổng cục Hải quan có công văn gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản đề nghị Đại sứ quán trao đổi với các cơ quan chức năng của Nhật Bản xem xét, tiếp tục dành viện trợ giai đoạn 2 cho Hệ thống VNACCS/VCIS.
Theo Tổng cục Hải quan, kể từ khi đưa vào vận hành chính thức từ 1-4-2014 đến nay, Hệ thống VNACCS/VCIS đã vận hành ổn định, mang lại rất nhiều thuận lợi cho cộng đồng DN và cơ quan Hải quan. Cập nhật từ khi triển khai chính thức đến hết tháng 1-2015, VNACCS/VCIS đã thu hút 50.440 DN tham gia; tổng số tờ khai 5,5 triệu tờ; tổng giá trị kim ngạch XNK 224 tỷ USD.


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thay đổi phương pháp quản lý nhân viên đại lý hải quan

(HQ Online)- Từ ngày 15-3-2015, Tổng cục Hải quan sẽ cấp tên người sử dụng và mật khẩu cho người được cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan để truy cập vào hệ thống; được sử dụng chữ ký số để phục vụ việc khai hải quan.
Một buổi gặp gỡ với các đại lý hải quan tại địa bàn Hà Nội. 
 
Tổng cục Hải quan sẽ thu hồi mã số nhân viên nếu cho người khác sử dụng mã số của mình hoặc sử dụng mã số của người khác hoặc sử dụng mã số không phải do Tổng cục Hải quan cấp để làm thủ tục hải quan.
Đó là một trong những phương pháp quản lý nhân viên đại lý hải quan mà Tổng cục Hải quan sẽ triển khai thực hiện quy định tại Thông tư 12/2015/TT-BTC ngày 30-1-2015 Quy định chi tiết thủ tục cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan có hiệu lực từ ngày 15-3-2015.

Được sử dụng chữ ký số để phục vụ việc khai hải quan
Cụ thể, Thông tư 12/2015/TT-BTC quy định những người làm việc tại đại lý làm thủ tục hải quan đáp ứng đủ điều kiện quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 20 Luật Hải quan và được đại lý làm thủ tục hải quan đề nghị thì được cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
Mã số nhân viên được ghi trên thẻ nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan và được sử dụng trong thời gian hành nghề khai hải quan của nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
Mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan được Tổng cục Hải quan cấp sẽ được cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan Hải quan. Trường hợp việc khai hải quan thực hiện bằng phương thức điện tử, cơ quan Hải quan sẽ cấp tên người sử dụng và mật khẩu cho người được cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan để truy cập vào hệ thống; được sử dụng chữ ký số để phục vụ việc khai hải quan.
Người được cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan chịu trách nhiệm bảo mật các thông tin do cơ quan Hải quan cung cấp. Khi thực hiện các thủ tục hành chính trực tiếp với cơ quan Hải quan, nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan phải xuất trình mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
Mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan có giá trị để làm thủ tục hải quan đối với các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng đại lý.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định, khi đại lý làm thủ tục hải quan bị chấm dứt hoạt động; Nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan bị thu hồi mã số, cơ quan Hải quan sẽ ngừng cho phép nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan truy cập vào hệ thống hoặc không chấp nhận các công việc liên quan đến thủ tục hải quan của nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
Đại lý làm thủ tục hải quan và mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan được sử dụng để làm thủ tục hải quan trên phạm vi toàn quốc.

Thu hồi thẻ trong một số trường hợp
Tại Điều 10 Thông tư 12/2015/TT-BTC quy định việc thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan, trong đó nêu rõ: Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ra quyết định thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan trong các trường hợp: Có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Có hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế hoặc hối lộ cán bộ, công chức hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan; Cho người khác sử dụng mã số của mình hoặc sử dụng mã số của người khác hoặc sử dụng mã số không phải do Tổng cục Hải quan cấp để làm thủ tục hải quan.
Cùng với đó là các trường hợp: Nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan chuyển làm việc khác hoặc chuyển sang làm việc cho đại lý làm thủ tục hải quan khác; Đại lý làm thủ tục hải quan bị giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động; Nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan sử dụng mã số đã hết thời hạn hiệu lực để làm thủ tục hải quan.
Nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan bị thu hồi mã số thuộc các trường hợp trên sẽ không được cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan trong thời hạn 3 năm kể từ ngày bị thu hồi. Trong thời gian không được hành nghề, nếu người bị thu hồi đứng tên thành lập DN thì DN này sẽ không được công nhận là đại lý làm thủ tục hải quan.
Hết thời hạn nêu trên, nếu người bị thu hồi muốn được cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan thì phải trải qua kỳ thi và được cấp lại Chứng chỉ nghiệp vụ hải quan và thực hiện thủ tục cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan theo quy định tại Điều 9 Thông tư này. 

Các môn thi để được cấp chứng chỉ hải quan, gồm: Pháp luật về Hải quan (Bao gồm các nội dung về Luật Hải quan, Luật Quản lý thuế, các Luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và các Nghị định quy định chi tiết thi hành; Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan); Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương (Bao gồm các nội dung về giao nhận vận tải, nghiệp vụ ngoại thương, thanh toán quốc tế); Kỹ thuật nghiệp vụ hải quan (Bao gồm các nội dung về thủ tục hải quan, phân loại hàng hóa, trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa, sở hữu trí tuệ và chính sách quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu).


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Google+ Followers

my thoughts

CÓ NHIỀU VIỆC TA CẦN LÀM TRONG ĐỜI, TRUOC HẾT LÀ LÀM 1 NGƯỜI TỐT.
Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Email: vnaccs@gmail.com