Thứ Ba, ngày 18 tháng 8 năm 2015

Dự án Luật Thuế XK, thuế NK (sửa đổi): Bổ sung cụ thể những trường hợp miễn thuế

(HQ Online)- Để phù hợp với các chuẩn mực và cam kết quốc tế, khuyến khích sản xuất xuất khẩu (SXXK), dự thảo Luật Thuế XK, thuế NK (sửa đổi) đã bổ sung một số trường hợp cụ thể được miễn thuế, chuyển từ đối tượng hoàn thuế sang đối tượng miễn thuế.
Công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu Móng Cái (Cục Hải quan Quảng Ninh) kiểm tra, giám sát hàng đông lạnh TNTX. Ảnh: T.BÌNH 
 
Chuyển nguyên liệu SXXK sang đối tượng miễn thuế
Ban soạn thảo phân tích, theo quy định tại khoản 1d, Điều 19 Luật Thuế XK, thuế NK hiện hành, thì nguyên liệu, vật tư NK để SXXK thuộc đối tượng tạm nộp thuế, sau khi XK sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu này sẽ được hoàn lại thuế; máy móc thiết bị NK để phục vụ sản xuất hàng XK phải nộp thuế NK. Tuy nhiên, Luật cũng quy định hàng hóa NK để gia công sau đó XK sản phẩm gia công thuộc đối tượng miễn thuế (bao gồm cả nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị). Về bản chất kinh tế thì hai trường hợp này giống nhau, đều là hàng hóa NK để sản xuất hàng hóa XK, không tiêu dùng tại Việt Nam, nhưng chế độ thuế, chế độ quản lý hải quan áp dụng khác nhau. 

Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật, Ban soạn thảo đã tham khảo điểm E3 (phần định nghĩa) Phụ lục F Công ước Kyoto và kinh nghiệm quốc tế một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Pakistan cho thấy nguyên liệu, vật tư NK để SXXK được áp dụng chế độ miễn thuế. 

Vì vậy, để khuyến khích SXXK, đơn giản thủ tục hành chính trong việc thu nộp và hoàn thuế (tương tự như phương thức quản lý đối với hàng gia công XK) tại khoản 7, Điều 15 dự thảo Luật đã chuyển hàng hóa là nguyên liệu, vật tư nhập để SXXK từ đối tượng hoàn thuế sang đối tượng miễn thuế.

Miễn thuế cho một số hàng hóa thuộc chế độ TNTX, TXTN có thời hạn
Theo quy định tại Luật thuế XK, thuế NK hiện hành về miễn thuế đối với hàng hóa tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập để tham dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm; máy móc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp tạm nhập-tái xuất hoặc tạm xuất-tái nhập để phục vụ công việc trong thời hạn nhất định nhưng chưa rõ ràng, có thể hiểu khác nhau. 

Qua thực tế thực hiện cũng đã phát sinh một số trường hợp cũng thuộc chế độ tạm nhập, có cùng bản chất với các hàng hóa này nhưng chưa thuộc đối tượng miễn thuế, như: Máy móc, thiết bị, linh kiện, phụ tùng tạm nhập để phục vụ thay thế, sửa chữa tàu biển, tàu bay nước ngoài, tạm xuất để phục vụ thay thế, sửa chữa tàu biển, tàu bay Việt Nam ở nước ngoài; hàng hóa tạm nhập-tái xuất để cung ứng cho tàu biển, tàu bay nước ngoài neo đậu tại cảng Việt Nam.  

Hay như máy móc, thiết bị  tạm nhập-tái xuất để phục vụ thử nghiệm nghiên cứu phát triển sản phẩm. Hàng hóa  tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập để bảo hành, sửa chữa theo thỏa thuận với thương nhân nước ngoài. Hoặc phương tiện chứa hàng hóa tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập theo phương thức quay vòng không phải thanh toán. 

Trong khi đó, theo định nghĩa tại Chương 1 Phụ lục G của Công ước Kyoto thì: “tạm nhập” là thủ tục hải quan mà theo đó một số loại hàng hoá đưa vào biên giới hải quan một cách có điều kiện có thể được miễn toàn bộ thuế hoặc một phần thuế NK và các loại thuế khác; ví dụ hàng hoá phải được NK phục vụ cho mục đích đặc biệt và phải được tái xuất trong một khoảng thời gian nhất định mà không được thay đổi hàng hoá trừ khi những khấu hao thông thường do nguyên liệu làm nên sản phẩm. Tại điểm 22 thực hành khuyến nghị Phụ lục chuyên đề G Công ước Kyoto cũng khuyến nghị các loại hàng hóa tạm nhập-tái xuất trên cần được miễn thuế XNK. 

Mặt khác, theo cam kết với EU và sắp tới là TPP thì hàng hóa tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập có thời hạn đều thuộc đối tượng miễn thuế. 

Do vậy, để thống nhất áp dụng chính sách thuế đối với hàng hóa tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập có thời hạn nhất định, phù hợp với các cam kết quốc tế, dự thảo Luật đã bổ sung các loại hàng hóa trên vào đối tượng được miễn thuế NK, bao gồm: Hàng hóa tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập để tham dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm, sự kiện thể thao, biểu diễn nghệ thuật; máy móc, thiết bị tạm nhập-tái xuất để thử nghiệm, nghiên cứu phát triển sản phẩm; máy móc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập để phục vụ công việc trong thời hạn nhất định, phục vụ gia công cho thương nhân nước ngoài; 

Máy móc, thiết bị, linh kiện, phụ tùng tạm nhập để thay thế, sửa chữa tàu biển, tàu bay nước ngoài, hoặc tạm xuất để thay thế, sửa chữa tàu biển, tàu bay Việt Nam ở nước ngoài; hàng hóa tạm nhập-tái xuất để cung ứng cho tàu biển, tàu bay nước ngoài neo đậu tại cảng Việt Nam;  

Hàng hóa tạm nhập-tái xuất hoặc tạm xuất-tái nhập để bảo hành, sửa chữa, thay thế theo điều kiện bảo hành của hợp đồng mua bán hàng hóa;

Phương tiện quay vòng theo phương thức tạm nhập-tái xuất, hoặc tạm xuất-tái nhập để chứa hàng hóa XK, NK.

Miễn thuế hàng mẫu, hàng có trị giá tối thiểu
Theo phân tích của Ban soạn thảo, Luật Thuế XK, thuế NK hiện hành chưa quy định về việc miễn thuế XK, NK đối với các trường hợp hàng hóa có trị giá tối thiểu hoặc có số tiền thuế phải nộp ở mức tối thiểu. Riêng đối với hàng mẫu, Điều 17 quy định thuộc đối tượng xét miễn thuế nhưng quy định chưa rõ ràng, có thể hiểu khác nhau và lợi dụng gian lận thương mại. Luật hiện hành cũng chưa quy định miễn thuế đối với ấn phẩm quảng cáo có trị giá thấp như ảnh, phim, mô hình thay thế cho hàng mẫu, gây khó khăn vướng mắc trong thực hiện. Theo Chuẩn mực 4.13 và Chuẩn mực 4.24 Chương 4 của Công ước Kyoto sửa đổi (Chuẩn mực này quy định: Để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại quốc tế, luật pháp các quốc gia nên quy định không thu thuế đối với hàng hóa có trị giá tối thiểu hoặc có số tiền thuế phải nộp ở mức tối thiểu). 

Ngoài ra, theo cam kết trong TPP, Việt Nam sẽ thực hiện không thu thuế đối với hàng hóa có trị giá tối thiểu hoặc có số tiền thuế phải nộp ở mức tối thiểu; miễn thuế cho hàng hóa là hàng mẫu, ảnh, phim, mô hình thay thế cho hàng mẫu, ấn phẩm quảng cáo có trị giá thấp.

Do đó, để tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, phù hợp với các cam kết quốc tế, dự thảo Luật Thuế XK, thuế NK (sửa đổi) đã bổ sung quy định tại khoản 5, khoản 10 Điều 15 về miễn thuế đối với hàng hóa có trị giá tối thiểu hoặc có số tiền thuế phải nộp tối thiểu; hàng mẫu, phim, ảnh, mô hình để làm mẫu có giá trị nhỏ, ấn phẩm quảng cáo theo số lượng quy định để tạo thuận lợi cho người khai hải quan và người nộp thuế đơn giản thủ tục hành chính khi hàng hóa XNK có trị giá tối thiểu hoặc có số tiền thuế phải nộp ở mức tối thiểu và phù hợp với Chuẩn mực 4.13 và Chuẩn mực 4.24 Chương 4 của Công ước Kyoto sửa đổi cũng như dự kiến phải cam kết tại Hiệp định TPP và Hiệp định Việt Nam - EU.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật Thuế XK, thuế NK (sửa đổi) cũng bổ sung quy định về miễn thuế đối với một số trường hợp: Hàng hóa mua bán trao đổi của cư dân biên giới trong định mức quy định của Thủ tướng Chính phủ (khoản 3); giống cây trồng, vật nuôi NK (khoản 12); nguyên liệu, vật tư, linh kiện NK trong nước chưa sản xuất được để sản xuất, lắp ráp trang thiết bị y tế cần được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo (khoản 14); hàng hóa NK để sử dụng trực tiếp cho địa bàn có điều kiện về kinh tế-xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng theo quy định của Chính phủ (khoản 17); hàng hóa XK, NK để bảo vệ môi trường (khoản 19); trường hợp đặc biệt để bảo đảm an ninh, chính trị hoặc vì mục đích công cộng do Thủ tướng Chính phủ quyết định (khoản 23).
Đồng thời, dự thảo Luật đã bổ sung quy định hàng hóa miễn thuế theo Điều ước quốc tế (khoản 4), chuyển hàng hóa kinh doanh TNTX từ đối tượng hoàn thuế sang đối tượng miễn thuế (điểm e khoản 9).

(nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Hai, ngày 10 tháng 8 năm 2015

Luật Thuế XK, NK (sửa đổi): Nhiều quy định thông thoáng với dệt may

(HQ Online)- Tại Hội thảo lấy ý kiến cho dự thảo Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu (sửa đổi) tổ chức tại TP.HCM ngày 7-8, các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã đồng tình với dự thảo và có nhiều góp ý xác đáng.
Theo dự thảo Luật Thuế XK, NK, nguyên phụ liệu NK thuộc diện miễn thuế. Ảnh: T.H 
 
Theo bà Đặng Phương Dung, Phó Tổng Thư kí Hiệp hội Dệt may Việt Nam, việc sửa Luât thuế XK, NK là cần thiết để kịp thời khắc phục những bất cập của Luật thuế XK, NK hiện hành, hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Dự thảo lần này đã bổ sung thêm phần các biện pháp phòng vệ thuế để thực sự thể hiện quan điểm bảo vệ thị trường, bảo vệ nhà sản xuất trong nước.

Về Nhóm vấn đề về miễn thuế, hoàn thuế, Hiệp hội đánh giá cao quan điểm tính thuế của Bộ Tài chính, đặc biệt vấn đề chuyển hàng hoá là nguyên liệu vật tư NK để sản xuất XK từ đối tuợng hoàn thuế sang đối tuợng miễn thuế. Đây chính là biện pháp khuyến khích các DN nói chung và trong đó là các DN dệt may nói riêng tìm các biện pháp để tăng đơn hàng FOB, nhằm mang lại thêm giá trị gia tăng của sản phẩm thay vì phần lớn là gia công đơn thuần như hiện nay, tăng sức cạnh tranh của DN Việt Nam. Đây cũng là quy định phù hợp với Công ước Kyoto. 

Việc ngành Hải quan chuyển từ kiểm tra trước sang hậu kiểm đối với hàng hoá NK như Bộ Tài chính/ngành thuế đang áp dụng đối với việc thu thuế GTGT, thu nhập DN hiện hành, với Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS tập trung hiện nay, các doanh nghiệp dệt may cho rằng hoàn toàn tin tưởng là quy định thông thoáng nhưng cơ quan Hải quan, thuế vẫn có thể thực hiện tốt trách nhiệm quản lý nhà nước, có thể phát hiện và áp dụng các biện pháp chế tài đúng mức đối với các DN có những hành vi vi phạm pháp luật thuế nói chung và thuế XNK nói riêng như gian lận, trốn thuế, chây ỳ thuế.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp dệt may đề nghị Bộ Tài chính cần nghiên cứu và có quy định tránh kiểm tra chồng chéo giữa cán bộ thuế và cán bộ hải quan khi kiểm tra thuế tại DN. Bởi vì, hiện tại các DN phản ánh cán bộ thuế ngoài việc kiểm tra các chi phí, chứng từ, thuế của DN thì cũng đã và đang kiểm tra rất kỹ việc sử dụng nguyên phụ liệu NK cả gia công và SXXK.

Bên cạnh đó, cần có quy trình, cách thức kiểm tra cụ thể; tập huấn nghiệp vụ hậu kiểm cho cán bộ hải quan, cán bộ thuế để có thể đảm bảo hiểu và đánh giá khách quan, tránh chủ quan, cảm tính, gây khó cho DN.

Quan điểm chỉ tính thuế và thu thuế khi DN đổi mục đích sử dụng sang tiêu thụ trên thị trường trong nước là hoàn toàn đúng đắn. Điều này sẽ đảm bảo đối xử công bằng giữa các DN, và đảm bảo nguyên tắc chỉ thu thuế khi hàng hoá đã được đưa ra tiêu thụ, phát sinh nghĩa vụ thuế đối với DN, tạo điều kiện thuận lợi, rút ngắn thời gian thông quan cũng như giảm đi các thủ tục xin hoàn thuế, không thu thuế của DN và thực sự đồng bộ với đổi mới của Luật Hải quan 2014.

Tương tự đối với quy định chuyển hàng hoá kinh doanh TNTX từ đối tượng hoàn thuế sang đối tượng miễn thuế. Tuy nhiên, đối với quy định về điều kiện “Bảo đảm bằng hình thức đặt cọc hoặc bảo lãnh của tổ chức tín dụng”, nên áp dụng quản lý rủi ro, ưu tiên những DN tuân thủ tốt pháp luật hải quan, đã hoạt động XNK từ 2 năm trở lên, thường xuyên làm thủ tục XNK hàng hoá qua cửa khẩu…(giống như đang áp dụng cho DN được hưởng ân hạn thuế NK 275 ngày hiện nay, vì một trong những điều kiện để DN được hưởng là DN không có nợ đọng thuế) để khuyến khích các DN tự giác thực hiện tốt pháp luật hải quan, thuế.

Trong dự thảo Điều 11  về miễn thuế, các DN đề nghị bổ sung các trường hợp: Hàng thay thế, không phải thanh toán cho hàng bị hỏng, mất, kém chất lượng được miễn thuế; Hàng XK thuế suất bằng 0% hoặc thuộc diện miễn thuế, do một số lí do nhất định (chất lượng không đảm bảo, chậm giao hàng…) bị trả lại, DN Việt Nam được phép nhập khẩu không phải tính thuế (nếu là loại có thuế NK) để giảm thiểu thiệt hại cho DN; trường hợp này DN sẽ phải nộp thuế GTGT khi tiêu thụ tại thị trường nội địa trên cơ sở giá hoá đơn bán hàng (thường là hàng không phù hợp yêu cầu của thị trường Việt Nam nên giá bán rất thấp, chủ yếu là để giảm thiểu thiệt hại của DN).

Về thời hạn nộp thuế, Hiệp hội đồng tình với Dự thảo đưa quy định ưu tiên về thời gian nộp thuế cho các DN thuộc diện ưu tiên. Tuy nhiên, đề nghị nên mở rộng đối tượng được hưởng quy định ưu tiên  cho các DN tuy chưa phải là diện ưu tiên. chẳng hạn, các DN  thực hiện tốt pháp luật hải quan, hàng hóa XNK thường xuyên được phân luồng Xanh cũng được hưởng ưu tiên về thời gian và cách nộp thuế theo thời hạn để giảm thiểu khối lượng thủ tục nộp thuế cho DN, giảm thời gian thông quan hàng hoá, tăng sức cạnh tranh của DN.
 
(nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Hai, ngày 03 tháng 8 năm 2015

JICA tiếp tục hỗ trợ hệ thống VNACCS cho Việt Nam

(HQ Online)- Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) cho biết, bắt đầu từ tháng 8-2015, JICA sẽ tiếp tục tài trợ Dự án Hợp tác Kỹ thuật “Tăng cường tính hiệu quả của Hệ thống Thông quan hàng hóa tự động của Việt Nam (VNACCS)”.
Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc (đứng thứ 3 từ phải qua) trực tiếp kiểm tra và chỉ đạo triển khai hệ thống VNACCS/VCIS tại Hải quan Hải Phòng (Tháng 4 năm 2014). Ảnh: Thái Bình. 
 
Theo cơ quan này, dự án nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động hiệu quả của hệ thống VNACCS/VCIS và là Dự án Hợp tác Kỹ thuật tiếp nối cho Dự án Thúc đẩy hải quan điện tử tại Việt Nam kết thúc vào hôm nay (31-7). 

Theo đánh giá của JICA, thời gian qua, Dự án Hợp tác Kỹ thuật đã hỗ trợ về công tác vận hành hệ thống VNACCS/VCIS, như xây dựng hệ thống pháp luật cần thiết, nâng cao năng lực người sử dụng hệ thống. Trong đó, hỗ trợ nâng cao năng lực cho hơn 10.000 công chức làm việc trong ngành Hải quan và 15.000 người hoạt động trong khối DN. 

Từ khi hệ thống được đưa vào vận hành, VNACCS/VCIS đã hoạt động ổn định và góp phần tạo thuận lợi thương mại ở Việt Nam, xấp xỉ 99% số lượng tờ khai xuất nhập khẩu đã được thực hiện thông qua VNACCS. Trong năm đầu tiên triển khai (từ 1-4-2014 đến 31-3-2015), có tổng số 56.000 DN đã nộp tờ khai thông qua hệ thống, tổng số tờ khai vào khoảng 6,74 triệu lượt, tổng doanh thu đạt khoảng 271,5 triệu USD. 

Một cuộc khảo sát do Tổng cục Hải quan (TCHQ) kết hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tiến hành tại một chi cục thuộc Hải quan tại TP. Hồ Chí Minh vào tháng 10- 2014 đã chứng minh rằng với việc áp dụng hệ thống VNACCS/VCIS, thời gian thông quan nhập khẩu và xuất khẩu trung bình đã giảm xuống 18% và 58% so với năm trước, giúp tiết kiệm chi phí trong thương mại quốc tế đối với DN. 

Tuy nhiên, JICA cho rằng hiện tại không phải tất cả các chức năng/nghiệp vụ của VNACCS/VCIS đã được đưa vào vận hành, do đó, cả phía cơ quan Hải quan và DN đều có những yêu cầu cải tiến cho hệ thống này. Do vậy, để vận hành hệ thống một cách hiệu quả, đồng thời tạo thuận lợi thương mại bằng cách áp dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro và kiểm tra sau thông quan nhằm tránh thất thoát thuế Dự án Hợp tác Kỹ thuật tiếp theo sẽ giải quyết vấn đề này nhằm hướng đến nâng cao hiệu quả hệ thống VNACCS/VCIS.

Theo JICA, bắt đầu từ tháng 8-2015, JICA tiếp tục tài trợ Dự án Hợp tác Kỹ thuật “Tăng cường tính hiệu quả của Hệ thống VNACCS”. Theo đó, Dự án Hợp tác Kỹ thuật tiếp theo dự kiến sẽ được hoạt động từ tháng 8-2015 đến tháng 6-2018. Trong đó, Dự án Hợp tác Kỹ thuật tiếp theo dự kiến sẽ đạt được 3 kết quả: Xác định các hoạt động định hướng trong tương lai để tăng cường khả năng ứng dụng hệ thống VNACCS/VCIS; Tinh giản và nâng cao hoạt động kiểm tra sau thông quan và Tăng cường năng lực nghiệp vụ quản lý rủi ro của các công chức hải quan.
 
(nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Hai, ngày 27 tháng 7 năm 2015

Hải quan chuẩn bị kết nối Cơ chế một cửa ASEAN thế nào?

(HQ Online)- Với vai trò Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), Tổng cục Hải quan đang tích cực chuẩn bị để sớm kết nối NSW vào ASW.
Hoạt động XNK tại cảng Green Port, Hải Phòng. Ảnh: T.BÌNH. 
 
Hoàn thiện cơ sở pháp lý và công nghệ thông tin

Theo Tổng cục Hải quan, từ nay đến cuối năm 2015, khối lượng công việc đặt ra đối với thực hiện NSW và ASW là hết sức nặng nề. Một mặt vừa phải tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả NSW, mặt khác Việt Nam phải tích cực chuẩn bị để kết nối NSW với Cơ chế một cửa của Malaysia.

Để phục vụ cho sự kiện quan trọng này, Tổng cục Hải quan đã và đang tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp. Đó là hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế phối hợp liên ngành. Hiện tại, việc thực hiện NSW và ASW đã được nội luật hóa tại Luật Hải quan 2014, Nghị định 08/2015/NĐ-CP. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng thông tư liên tịch để hướng dẫn thực hiện NSW.

Cũng theo Tổng cục Hải quan, thực tiễn triển khai vừa qua cho thấy một số vấn đề pháp lý cần tiếp tục được hoàn thiện để điều chỉnh các giao dịch và quy trình xử lý thủ tục hành chính trên Cổng thông tin một cửa quốc gia song phải đảm bảo nhanh chóng để có thể thực hiện ngay trong năm 2015. Vì vậy, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đang phối hợp với các Bộ: Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quốc phòng, Y tế xây dựng dự thảo để trình Ban Chỉ đạo quốc gia ban hành Quy chế phối hợp liên ngành để giải quyết thủ tục hành chính tại cảng biển. 

Song song đó, Cơ quan Thường trực đang phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quốc phòng, Y tế xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thực hiện NSW tại cảng biển đối với phương tiện vận tải ra vào cảng biển (bao gồm các cảng biển nội địa) và cảng đường sông quốc tế trong giai đoạn 2015 - 2017. Xây dựng thông tư hướng dẫn việc thanh toán trực tuyến đối với các khoản phí và lệ phí thực hiện thủ tục hành chính trên Cổng thông tin một cửa quốc gia trên cơ sở kinh nghiệm triển khai thanh toán trực tuyến thuế XNK và lệ phí của cơ quan Hải quan. Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành triển khai các thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các thủ tục hành chính trên NSW…

Đối với các bộ đã chính thức kết nối NSW tiếp tục rà soát, đánh giá các loại chứng từ, hồ sơ yêu cầu phải nộp, xuất trình để thực hiện các thủ tục hành chính trong NSW và đề xuất phương án đơn giản hóa phương thức nộp/xuất trình các loại hồ sơ, giấy tờ này và sử dụng chứng từ điện tử…

Một nội dung quan trọng khác đang được Tổng cục Hải quan tập trung thực hiện là tiếp tục đôn đốc các bộ, ngành đã kết nối chính thức hoàn thiện hệ thống CNTT chuyên ngành để kết nối đầy đủ với Cổng thông tin một cửa quốc gia. Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về hạ tầng công nghệ để sẵn sàng thực hiện thanh toán trực tuyến qua Cổng thông tin một cửa quốc gia đối với các khoản thu phí, lệ phí thực hiện thủ tục hành chính đảm bảo cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4. Phối hợp với Bộ Công Thương triển khai xây dựng giải pháp kết nối NSW với ASW để trao đổi thông tin về tờ khai hải quan ASEAN (ACDD) và giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D với các nước thành viên đã sẵn sàng kết nối.

Kiện toàn bộ phận chuyên môn

Theo Tổng cục Hải quan, kinh nghiệm thực hiện kết nối chính thức NSW thời gian qua cho thấy, để thực hiện hiệu quả, đúng kế hoạch cần có sự phối hợp hết sức chặt chẽ, linh động và kịp thời giữa các đơn vị đầu mối tại các bộ, ngành với Tổng cục Hải quan. Do đó, việc các bộ chủ động chỉ định đơn vị đầu mối, thành lập bộ phận công tác chuyên môn của từng bộ, ngành giúp cho việc kết nối chính thức và triển khai mở rộng NSW được hiệu quả, đáp ứng được kế hoạch của Ban chỉ đạo quốc gia. Vì vậy, Tổng cục Hải quan đang tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành chủ động và thường xuyên kiện toàn nhân sự của bộ phận chuyên môn, ưu tiên bố trí nhân lực một cách hợp lý để đáp ứng cho việc triển khai mở rộng về phạm vi và số lượng các thủ tục hành chính trong thời gian tới. Nhất là tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các bộ phận thường trực tại các bộ, ngành. 

Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đề xuất các bộ, ngành chưa thành lập bộ phận thường trực (trừ các Bộ: Tư pháp, Ngoại giao; Văn phòng Chính phủ) cần nhanh chóng thành lập bộ phận này để phối hợp với Cơ quan thường trực (Tổng cục Hải quan) trong thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn.
Bên cạnh sự nỗ lực của Cơ quan Thường trực, Tổng cục Hải quan đề nghị Ban Chỉ đạo quốc gia chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành tích cực triển khai bởi nhiệm vụ NSW và ASW rất nặng nề, liên quan đến nhiều bộ, ngành.

Kết luận tại Phiên họp lần thứ 5 của Ban chỉ đạo quốc gia về ASW và NSW (ngày 4-5-2015, tại trụ sở Tổng cục Hải quan) - Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh - Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về ASW và NSW yêu cầu: Trong tháng 10-2015 thực hiện mở rộng kết nối thêm 3 Bộ vào NSW: Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Khoa học và Công nghệ; Thông tin và Truyền thông.

Đối với kết nối ASW, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành liên quan phấn đấu trong tháng 10-2015 kết nối NSW với ít nhất một quốc gia và chuẩn bị các điều kiện để kết nối NSW với các nước ngoài khu vực ASEAN.

Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Tổng cục Hải quan- Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo quốc gia về ASW và NSW đang tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ các nội dung công việc. Một trong số đó là phấn đấu mở rộng kết nối NSW với 3 Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Khoa học và Công nghệ; Thông tin và Truyền thông, cũng như kết nối NSW vào ASW sớm hơn thời gian mà Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh chỉ đạo. Cụ thể, theo thông báo 5776/TB-TCHQ ngày 24-6-2015 của Văn phòng Tổng cục Hải quan, tại cuộc họp lãnh đạo Tổng cục Hải quan thường kỳ ngày 22-6-2015, Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc chỉ đạo: Cục Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan thực hiện kế hoạch mở rộng kết nối NSW để tiến hành kết nối thêm 3 Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Khoa học và Công nghệ; Thông tin và Truyền thông, và kết nối NSW với NSW của Malaysia vào đầu tháng 9-2015.

(nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Tư, ngày 08 tháng 7 năm 2015

Xây dựng Quy chế cung cấp thông tin tờ khai hải quan điện tử

(HQ Online)- Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh vừa có ý kiến chỉ đạo về Đề án "Cung cấp thông tin tờ khai hải quan dưới dạng dữ liệu điện tử cho các cơ quan".
Ảnh minh họa. 
 
Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về việc cung cấp, trao đổi, sử dụng thông tin tờ khai hải quan dưới dạng dữ liệu điện tử để thực hiện các quy định tại Khoản 9 Điều 25 và Điều 109 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21-1-2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

Tại Khoản 9 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21-1-2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan quy định: "Tờ khai hải quan điện tử có giá trị sử dụng trong việc thực hiện các thủ tục về thuế, cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, thủ tục thanh toán quan ngân hàng và các thủ tục hành chính khác; chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa lưu thông trên thị trường. Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan sử dụng tờ khai hải quan điện tử phục vụ yêu cầu quản lý, không yêu cầu người khai hải quan cung cấp tờ khai hải quan giấy. Cơ quan hải quan có trách nhiệm cung cấp thông tin tờ khai hải quan dưới dạng dữ liệu điện tử cho các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Các cơ quan có liên quan có trách nhiệm trang bị các thiết bị để tra cứu dữ liệu trên tờ khai hải quan điện tử".

Và tại Khoản 2 Điều 109 Nghị định số 08/2015/NNĐ-CP quy định: "Việc trao đổi, cung cấp thông tin hải quan ở dạng điện tử được thực hiện thông qua kết nối mạng máy tính hoặc thông qua hệ thống mạng di động dưới hình thức thư điện tử hoặc nhắn tin từ các địa chỉ, số điện thoại được cơ quan hải quan công bố chính thức". 

Như vậy, Nghị định 08/2015/NĐ-CP đã quy định về giá trị pháp lý cũng như việc cung cấp, sử dụng thông tin hải quan dưới dạng dữ liệu điện tử của các cơ quan. Tuy nhiên, thông tin trên tờ khai hải quan có liên quan đến trách nhiệm xử lý của nhiều cơ quan, cần có sự phối hợp trong cung cấp, trao đổi, sử dụng để thực hiện các quy định trên của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP cho thống nhất. Do vậy, thay vì xây dựng Đề án "Cung cấp thông tin tờ khai hải quan dưới dạng dữ liệu điện tử cho các cơ quan", Bộ Tài chính sẽ chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về việc cung cấp, trao đổi, sử dụng thông tin tờ khai hải quan dưới dạng dữ liệu điện tử.
 
(nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Sáu, ngày 03 tháng 7 năm 2015

Không được yêu cầu doanh nghiệp nộp giấy phép khi làm thủ tục hải quan

(HQ Online)- Những giấy phép của các bộ đã được thực hiện qua Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) DN sẽ không phải nộp (bản giấy) khi thực hiện thủ tục hải quan, theo chỉ đạo mới đây của Tổng cục Hải quan.
Giấy phép NK mô-tô phân khối lớn là một trong 13 giấy phép được cấp qua Cổng thông tin NSW. Ảnh: Internet. 
 
Để kiểm tra các giấy phép này cán bộ hải quan sẽ tra cứu trên hệ thống thông quan điện tử tập trung (E-Customs) và không được yêu cầu DN nộp giấy phép (bản giấy) khi làm thủ tục hải quan.
 
Tổng cục Hải quan cũng yêu cầu các cục hải quan địa phương hướng dẫn CBCC cách thức truy cập, kiểm tra những giấy phép đã được thực hiện qua NSW.

Theo Tổng cục Hải quan, hiện nay, NSW đã được kết nối giữa 6 bộ: Tài chính, Giao thông vận tải, Công Thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, do đó các DN đã chính thức khai báo và tiếp nhận giấy phép điện tử trên Cổng thông tin NSW. Hiện nay có 13 loại giấy phép được các bộ cấp bằng phương thức điện tử qua Cổng thông tin NSW.

Trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có 2 thủ tục gồm: Đăng ký cấp Giấy chứng nhận chất lượng thức ăn Thủy sản NK; Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi NK.

Bộ Y tế có 2 thủ tục gồm: Xác nhận đạt yêu cầu NK của cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng thực phẩm NK; Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành bộ xét nghiệm nhanh thực phẩm NK.

Bộ Tài nguyên và Môi trường có một thủ tục là Xác nhận đăng ký NK các chất HCFC.

Bộ Giao thông vận tải có 5 thủ tục gồm: Thủ tục cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật cho xe mô tô, xe gắn máy NK và động cơ NK để sản xuất, lắp ráp mô tô, xe gắn máy; Cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật xe đạp điện NK; Cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe chở người bốn bánh có gắn động cơ hoạt động trong phạm vi hạn chế NK; Cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới NK; Cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng NK.

Bộ Công Thương có 3 thủ tục gồm: Thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ mẫu D (C/O Form D); Thủ tục cấp giấy phép NK mô-tô phân khối lớn; Thủ tục cấp giấy phép NK đối với các chất làm suy giảm tầng ôzôn.

(nguồn: baohaiquan.vn)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Google+ Followers

my thoughts

CÓ NHIỀU VIỆC TA CẦN LÀM TRONG ĐỜI, TRUOC HẾT LÀ LÀM 1 NGƯỜI TỐT.
Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Email: vnaccs@gmail.com