Hiển thị các bài đăng có nhãn naccs. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn naccs. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2014

Tìm hiểu hệ thống thông quan NACCS của Hải quan Nhật Bản.

(VNACCS.com) -Để đạt được mục tiêu hiện đại hoá tất cả quy trình nghiệp vụ hải quan, Hải quan Nhật Bản đã phải nỗ lực từng bước khắc phục những khó khăn và cản ngại. Một trong những điều mà Hải quan Nhật Bản coi trọng trong quá trình hiện đại hoá là ứng dụng toàn diện quy trình tin học vào công tác nghiệp vụ, trong đó trọng tâm là hệ thống thông quan điện tử NACCS.

                                                            Biểu tượng của HQ Nhật Bản

Triển khai thành công hệ thống thông quan NACCS
Hải quan Nhật Bản tiến hành đề án tin học hoá ngành hải quan bắt đầu từ năm 1978 với việc áp dụng Hệ thống tin học hải quan tự động (NACCS), xử lý các vấn đề liên quan đến thủ tục thương mại nhằm cải thiện và đẩy nhanh quá trình thông quan hàng hoá. Hệ thống này đóng vai trò then chốt trong việc tiến đến mục tiêu chính của ngành Hải quan Nhật Bản là thiết lập dịch vụ thông quan “một cửa” cho khách hàng.
Cuộc cách mạng tin học hoá trong ngành Hải quan Nhật Bản mang lại lợi ích không chỉ đối với ngành hải quan mà còn cả đối với cả giới doanh nghiệp.

Quá trình thông quan hàng hoá diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm đáng kể thời gian và tiền bạc cho giới doanh nghiệp, trong khi đó công tác quản lý của ngành hải quan được chuyển từ quản lý và giao dịch trên giấy tờ sang quản lý và giao dịch bằng tin học, giúp công việc đơn giản và hiệu qủa hơn rất nhiều.
Việc áp dụng tin học hoá của Hải quan Nhật Bản thực sự nhảy vọt trong tiến trình cải cách, hiện đại hoá. Hệ thống NACCS của Hải quan Nhật Bản hiện nay được coi như mô hình giao diện chuẩn cho các cơ quan hữu trách có liên quan khác phát triển hệ thống tin học của mình.

Hàng hóa XNK được thông quan nhanh chóng

Theo quy định chung đối với hàng hóa XNK, việc khai báo thực hiện qua Hệ thống thông quan tự động NACCS. Hệ thống NACCS được vận hành như sau: Đầu tiên người khai thuê sẽ nhập dữ liệu thông tin cần thiết để khai báo về lô hàng XNK bằng máy vi tính của mình.
Sau khi xử lý thông tin, hệ thống sẽ “chạy” và tự động hiện ra những quy định hiện hành có liên quan, tự động tính ra số thuế phải nộp... để hoàn thiện tờ khai và in nội dung đó ngay tại máy tính trạm của người sử dụng. Sau đó, một chuyên gia về hải quan (là người được cơ quan Hải quan cấp chứng nhận và làm việc trong công ty khai thuê, không phải công chức Hải quan) xác nhận và chuyển tờ khai này tới cơ quan Hải quan qua hệ thống. Hệ thống NACCS sẽ tự động lựa chọn cách thức, quy trình kiểm tra dựa trên khai báo.
Có 3 hình thức kiểm tra hải quan: kiểm tra đơn giản, kiểm tra chứng từ và kiểm tra thực tế hàng hóa. Đối với hình thức kiểm tra đơn giản, cơ quan Hải quan sẽ chấp nhận cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ngay lập tức, đó là đối với các trường hợp hàng hóa miễn thuế; thuế đã được nộp qua tài khoản điện tử hoặc được chấp nhận nợ thuế.

Đối với hình thức thứ 2 (kiểm tra chứng từ), người XNK phải xuất trình một bản photocopy tờ khai cho cơ quan Hải quan cùng với các chứng từ cần thiết như invoice... Việc kiểm tra chứng từ do công chức Hải quan thực hiện, sau đó hàng hóa XNK khai báo được chấp thuận (đối với hàng có thuế, sau khi việc nộp thuế được xác nhận). Lệnh chấp nhận thông quan sẽ được cung cấp cho máy tính trạm của người nhập khẩu hoặc người khai thuê.

Đối với hình thức thứ 3 (kiểm tra thực tế hàng hóa), thủ tục như đối với hình thức thứ 2, nhưng công chức hải quan sẽ tiếp tục kiểm tra thực tế hàng hóa sau khi đã kiểm tra chứng từ. Cơ quan Hải quan có thể kiểm tra thực tế hàng hóa tại: nơi lưu giữ hàng hóa; lấy mẫu về kiểm tra; kiểm tra trong khu vực kiểm tra hải quan. Khi hoàn thành việc kiểm tra, hàng hóa sẽ được chấp nhận thông quan thực sự, riêng đối với hàng NK có thuế, chỉ sau khi doanh nghiệp nộp thuế.

Theo thống kê của Hải quan Nhật Bản, có khoảng 70% lượng hàng hóa XNK áp dụng hình thức kiểm tra đơn giản, 25% lượng hàng hóa kiểm tra hồ sơ, còn lại chỉ có 5% hàng hóa phải kiểm tra thực tế.

Các bước thủ tục đối với hàng xuất khẩu
Sau khi khai báo qua mạng thông tin, trước hết hàng hóa XK sẽ được đưa vào khu vực Hozei (khu vực dành riêng cho hàng hóa XNK); Người làm thủ tục hải quan sẽ xuất trình invoice và các chứng từ khác như chấp nhận thông quan (trước đó đã được xử lý qua NACCS), giấy phép khác nếu có.

Cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra một lần nữa tờ khai XK đã được cho phép XK và các chứng từ khác. Việc kiểm tra chứng từ được thực hiện trong trường hợp: sự phân loại đúng theo Danh mục dữ liệu hàng xuất khẩu; hàng hóa phù hợp; việc áp dụng cho hàng hóa được phép miễn thuế là chính xác.

Khi kiểm tra những chứng từ được xuất trình, cơ quan Hải quan quyết định hàng hóa nào sẽ phải kiểm tra thực tế để xác định chắc chắn rằng việc phân loại hàng hóa là chính xác, cũng như phù hợp với quy định của các luật khác.

Trong một số trường hợp, chủ hàng XK phải xin giấy phép của các cơ quan chức năng khác trước khi làm thủ tục hải quan như Bộ Kinh tế và thương mại; Bộ Sức khoẻ và lao động việc làm...

Theo Báo Hải quan


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Địa chỉ website chính thức về AFR (Advance Filing Rules ) dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật

(VNACCS.com) - AFR : The Advance Filing Rules require a vessel operator or a NVOCC to electronically submit to Japan Customs information on maritime container cargoes to be loaded on a vessel intended to entry into a port in Japan,in principle no later than 24 hours before departure of the vessel from a port of loading.

 official website about AFR:   http://www.naccscenter.com/afr/


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

Kinh nghiệm quản lí hệ thống NACCS của Nhật Bản

(VNACCS.com) -Tại Nhật Bản, cơ quan Hải quan sử dụng hệ thống NACCS và CIS cùng với một số hệ thống vệ tinh khác để thông quan tự động hàng hóa XNK. Để quản lí, vận hành các hệ thống trên, một bộ máy tương ứng được hình thành với ba đơn vị chính là Trung tâm NACCS, Trung tâm Kudan và Văn phòng quản lí thông tin.

 

Trung tâm điều hành hệ thống thông quan hàng hóa tự động (NACCS)
Việc quản lí và điều hành Hệ NACCS được tập trung về Trung tâm NACCS. Trung tâm NACCS được thành lập vào tháng 5-1977 dưới hình thức một tổ chức thuộc Chính phủ và chuyển thành cơ quan hành chính độc lập vào tháng 10-2003. Đến tháng 10-2008, cơ quan này chính thức được cổ phần hóa, trong đó Nhà nước là cổ đông chi phối (chiếm trên 50%) để đảm bảo quyền kiểm soát của Chính phủ đối với việc bổ nhiệm Ban giám đốc cũng như vận hành toàn bộ hệ thống. 

Việc tư nhân hóa Trung tâm NACCS xuất phát từ đặc điểm là hệ thống NACCS phục vụ cho cả khu vực tư nhân và khu vực công, nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả cung ứng quốc tế và sức cạnh tranh giữa các cảng biển và sân bay. Cũng từ đặc điểm này mà nhân sự tại đây được phân chia theo tỉ lệ 50/50, nghĩa là một nửa là nhân viên Chính phủ (cán bộ hải quan và một số cán bộ thuộc các cơ quan khác), nửa còn lại đến từ các công ty tư nhân lớn. Hiện Trung tâm NACCS có 107 người (khi mới thành lập có 25 người). Ban lãnh đạo gồm 1 Tổng giám đốc và 3 Giám đốc điều hành. Trung tâm NACCS có 5 phòng.

Các bên tham gia sử dụng và vận hành hệ thống NACCS bao gồm cả khối cơ quan công và khối tư nhân. Về phía các cơ quan Chính phủ có: cơ quan Hải quan; cơ quan quản lí nhập cư và hành khách xuất nhập cảnh; cơ quan kiểm dịch động, thực vật; cơ quan kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm; cơ quan quản lí cảng; cơ quan biên phòng; các văn phòng quản lý thương mại; chính quyền địa phương... Đối với khối tư nhân, các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực logistics, đại lý làm thủ tục hải quan, ngân hàng, thương nhân hoạt động XNK là những đối tượng chính tham gia sử dụng hệ thống.

Hiện nay, Trung tâm NACCS chịu trách nhiệm quản lí hệ thống NACCS và tham gia vào việc phát triển và nâng cấp chương trình và cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận hành hệ thống NACCS. Để thực hiện nhiệm vụ này, Trung tâm NACCS kí hợp đồng với Công ty NTT Data để bảo trì, nâng cấp phát triển hệ thống.

Trung tâm này là đơn vị sự nghiệp có thu. Mọi giao dịch trên hệ thống NACCS đều được tính phí. Phí giao dịch sử dụng hệ thống NACCS chính là ngân sách để duy trì hoạt động của Trung tâm.

Trung tâm Kudan - vận hành, phát triển hệ thống CIS
Trung tâm Kudan là đơn vị thuộc Hải quan Nhật Bản, được thành lập trong bối cảnh tinh giản bộ máy tổ chức ở cấp trung ương và đẩy mạnh phân cấp về địa phương. Trung tâm Kudan được đặt tại Hải quan vùng Tokyo song ít chịu sự chi phối từ Hải quan Tokyo mà chủ yếu duy trì mối quan hệ dưới hình thức báo cáo, trao đổi, tham vấn trong công việc.

Trung tâm Kudan chịu trách nhiệm chính quản lí, vận hành, phát triển và nâng cấp hệ thống CIS (hệ thống thông tin hải quan phục vụ riêng cho mục đích quản lí của cơ quan Hải quan). Ngoài ra, Trung tâm Kudan cũng quản lí một số hệ thống vệ tinh nhỏ như COMTIS (Hệ thống thông tin và thu thuế đối với thư tín quốc tế), ACTIS (Hệ thống thông tin và thu thuế đối với hàng đường không), COMOS (Hệ thống kiểm tra và mạng thông tin hàng đường biển).

Bên cạnh đó, Trung tâm cũng phối hợp với Trung tâm NACCS tham gia quản lí và vận hành hệ thống NACCS ở một mức độ giới hạn, phần lớn liên quan đến nghiệp vụ hải quan như thuế suất, chính sách,…

Nhân sự tại Trung tâm Kudan là cán bộ, công chức hải quan được lựa chọn từ các lĩnh vực nghiệp vụ khác nhau, được đào tạo tại chỗ về kĩ năng quản lí, vận hành hệ thống. Trung tâm Kudan được cơ cấu thành 7 phòng chức năng với trên 60 biên chế.
Trung tâm Kudan kí hợp đồng với các công ty tin học để bảo trì kĩ thuật, hỗ trợ vận hành, nâng cấp phát triển hệ thống.

Văn phòng quản lí thông tin
Là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan Nhật Bản nằm trong Bộ Tài chính, có bộ máy gọn nhẹ với khoảng 12 người. Văn phòng chịu trách nhiệm giám sát tất cả các hệ thống CNTT, bao gồm cả hai trung tâm NACCS và Kudan, mạng thông tin. Văn phòng là nơi đưa ra quyết định về định hướng phát triển, nâng cấp các hệ thống CNTT của hải quan và chịu trách nhiệm về phân bổ ngân sách đầu tư, kiểm tra, giám sát mua sắm đấu thầu các hệ thống CNTT.

Nhìn vào mô hình tổ chức quản lí vận hành NACCS/CIS của Nhật Bản có thể thấy nó được hình thành từ nhu cầu tinh giản bộ máy trung ương và tăng cường sự tham gia của khu vực tư, qua đó nâng cao tính cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ song vẫn đảm bảo sự kiểm soát của Chính phủ đối với các hệ thống.
T.Bình


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Quy tắc AFR: thêm rủi ro

(VNACCS.com) -  Luật Hải quan sửa đổi của Nhật Bản được thông qua ngày 30-3-2012 cho phép hải quan Nhật Bản thực thi quy tắc khai báo trước (Advance Filing Rule) hay còn gọi là quy tắc AFR đối với hàng hóa vận chuyển đường biển bằng container. Quy tắc này mang thêm nhiều rủi ro và chi phí cho các nhà vận chuyển và các hãng tàu, buộc họ phải thận trọng hơn khi vận chuyển hàng hóa vào nước này.

Theo quy tắc AFR, các hãng vận chuyển bằng tàu container gọi tắt là các hãng tàu và các nhà vận chuyển không tàu (Non-Vessel Operating Common Carriers - NVOCC) phải khai báo hải quan điện tử liệt kê hàng hóa nhập khẩu vận chuyển đường biển bằng container vào Nhật Bản hoặc chuyển cảng ở Nhật Bản 24 giờ trước khi con tàu khởi hành từ cảng xếp hàng. Quy tắc này không áp dụng cho hàng hóa vận chuyển bằng container mặt phẳng (flatform container), container rỗng, và các container vẫn còn nằm trên tàu mà không có dỡ xuống cảng ở Nhật Bản.              

Giai đoạn triển khai và thử nghiệm AFR từ đầu tháng 11 năm ngoái và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1-3-2014 giờ Nhật Bản. Nếu có vi phạm, các hãng tàu và NVOCC có thể phải đối diện với hình phạt tù lên đến một năm hoặc phạt tiền đến 500.000 yen (hơn 100 triệu đồng) cho một trường hợp vi phạm.

Quy tắc AFR rắc rối và phức tạp hơn AMS (Automated Manifest System) nhiều. Khai AMS chỉ cần 62 mục, thì AFR đòi hỏi phải khai báo tới 112 mục! AMS cho phép các hãng tàu khai giúp các NVOCC thì AFR không cho phép điều này, trừ phi hãng tàu đóng vai trò như một NVOCC. Tất cả các NVOCC gửi hàng qua hãng tàu mà có phát hành vận đơn, đều phải khai báo AFR với Hải quan Nhật Bản.    

Việc AFR quy định chỉ cần phải khai báo 24 giờ trước khi tàu rời cảng xếp hàng tiềm ẩn rủi ro là khi hàng đã xếp lên tàu, nhưng việc khai báo không được Hải quan Nhật Bản cho phép nhập khẩu hoặc chuyển tải tại Nhật thì hàng buộc phải nằm lại trên tàu và quay về cảng xuất trước đó (lệnh DNU - do not unload). Khi đó, việc phân định rủi ro và chi phí này sẽ không tránh khỏi tranh cãi.

Cho nên các nhà vận chuyển cần thận trọng cần thiết, mặc dù AFR quy định vậy, nhưng phải đảm bảo rằng việc khai báo phải thành công và được sự chấp nhận của Hải quan Nhật Bản trước khi xếp hàng nhằm hạn chế rủi ro trong trường hợp Hải quan Nhật không cho phép dỡ hàng xuống cảng ở Nhật Bản. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng điều này chỉ hạn chế chứ không triệt tiêu rủi ro này. Vì theo AFR, nếu Hải quan Nhật Bản đánh giá lô hàng có rủi ro an ninh cao sau khi xếp hàng lên tàu, họ vẫn được quyền ra lệnh DNU. Trường hợp lô hàng được thanh toán bằng L/C, rủi ro có thể về phía ngân hàng mở L/C, nhà xuất khẩu chiết khấu bộ chứng từ và nhận thanh toán, nhưng lô hàng không đến Nhật Bản vì lệnh DNU của Hải quan Nhật Bản. 

Hiện tại các hãng tàu và các NVOCC đã hoàn thành công tác đăng ký và đang khai báo thử nghiệm AFR. Thực hiện việc khai báo này, hãng tàu thông báo sẽ thu phí người gửi hàng là 30 đô la Mỹ cho một vận đơn. Còn các NVOCC có vẻ đang rất lúng túng, do chưa thấy thông báo sẽ thu phí này như thế nào. Tuy nhiên, chắc chắn họ phải thu phí, nhưng như vậy các NVOCC sẽ kém cạnh tranh về giá so với hãng tàu, vì nếu người gửi hàng trực tiếp gửi hàng thẳng cho hãng tàu, thì họ chỉ tốn một lần chi phí, trong khi gửi hàng qua NVOCC họ sẽ phải trả cao hơn cho loại phí này. Điều này các NVOCC sẽ phải cân nhắc kỹ càng khi phải đưa ra quyết định. 
  (Theo Thesaigontimes)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Bình Dương dẫn đầu về số doanh nghiệp tham gia VNACCS/VCIS

(VNACCS.com) - Theo Cục Hải quan tỉnh Bình Dương, đến nay, toàn tỉnh đã có 1.494 doanh nghiệp đăng ký tham gia vào hệ thống thông quan hàng hóa tự động và cơ chế hải quan một cửa trong hoạt động xuất nhập khẩu (VNACCS/VCIS), đứng đầu về số lượng doanh nghiệp đăng ký tham gia vào hệ thống này trên toàn quốc.
Ông Nguyễn Phước Việt Dũng, Cục trưởng Hải quan Bình Dương, cho biết Cục Hải quan Bình Dương đã nỗ lực vận động doanh nghiệp tham gia thông qua các buổi tập huấn và đào tạo hệ thống VNACCS/VCIS. 
Bên cạnh đó, theo ông Dũng, Cục đã ký kết tuyên truyền với các Hiệp hội doanh nghiệp Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Câu lạc bộ Xuất nhập khẩu Bình Dương... để giúp doanh nghiệp kịp thời nắm bắt phương thức mới và chung tay góp sức cùng ngành Hải quan triển khai hệ thống thông quan điện tử này.
Tuy nhiên, ông Dũng cho biết so với số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh (3.477), số lượng doanh nghiệp tham gia vào hệ thống VNACCS/VCIS tại Cục Hải quan Bình Dương vẫn còn khiêm tốn. Trong thời gian tới, Cục Hải quan Bình Dương tiếp tục tăng cường tuyên truyền tới tất cả doanh nghiệp trên địa bàn; đồng thời sẽ tổ chức lớp đào tạo tập huấn cho tất cả doanh nghiệp chưa tham gia sử dụng hệ thống này.
VNACCS/VCIS là hệ thống hải quan điện tử và cơ chế một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa hải quan do Chính phủ Nhật Bản viện trợ không hoàn lại cho Chính phủ Việt Nam . Việc triển khai hệ thống này sẽ thay đổi căn bản phương thức quản lý của Hải quan Việt Nam, tự động hóa ở cấp độ cao dựa trên ứng dụng các phần mềm điện tử, cho phép nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp gấp nhiều lần so với hiện nay; mang lại nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp như thời gian thông quan nhanh, độ chính xác cao, ổn định, chất lượng, hiệu quả kiểm soát và thông quan hàng hóa cho một lô hàng chỉ tính bằng giây, thay cho thời gian 5-15 phút đối với một lô hàng thông quan điện tử.
Theo kế hoạch của Tổng cục Hải quan, từ ngày 15/11/2013 đến 15/02/2014, toàn ngành Hải quan và tất cả doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ tham gia chạy thử nghiệm hệ thống VNACCS/VCIS. Đến tháng 4/2014, hệ thống này sẽ chính thức đi vào hoạt động./. 


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Thí điểm VNACCS/VCIS: Trước giờ G

(VNACCS.com) - Dự kiến sáng thứ Hai (ngày 18-11-2013) ngành Hải quan sẽ cho chạy thử nghiệm Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS. Trước thời điểm chạy thử, mọi công tác chuẩn bị đã được cơ quan Hải quan hoàn tất.


Ngày 13-11, trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, ông Hiroki Sakurai- Cố vấn trưởng Dự án khẳng định, về mặt kĩ thuật, Hệ thống đã sẵn sàng phục vụ quá trình chạy thử nghiệm theo đúng lộ trình kế hoạch, đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, để quá trình chạy thử nghiệm thành công, vấn đề hết sức quan trọng là cần sự tham gia thực hiện của các DN XNK và CBCC hải quan.

Để tham gia thực hiện, ông Hiroki Sakurai cho biết, các DN cần có CKS và đăng kí với cơ quan Hải quan. Vấn đề nữa là DN phải cài đặt phần mềm đầu cuối phục vụ khai báo. Phần mềm này DN có thể tải miễn phí tại Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan www.customs.gov.vn hoặc sử dụng sản phẩm của DN cung cấp phần mềm dịch vụ.

Ông Hiroki Sakurai chia sẻ, VNACCS được xây dựng dưa trên nền tảng công nghệ cốt lõi của Hệ thống thông quan tự động NACCS của Nhật Bản. Tại Nhật Bản, hiện nay Hệ thống NACCS xử lí hàng chục triệu bộ tờ khai XNK mỗi năm và hầu hết lượng tờ khai XNK ở Nhật Bản được thực hiện qua NACCS. Chính vì vậy, VNACCS với mức độ tự động hóa cao hơn hệ thống thông quan điện tử hiện nay sẽ hỗ trợ DN rất nhiều trong thực hiện thủ tục hải quan, giúp DN hạn chế sai sót. Với khả năng xử lí, trả kết quả chỉ trong vài giây nên với tờ khai được phần luồng Xanh thời gian thông quan rất nhanh chóng…

Theo ông Hiroki Sakurai, với sự quan tâm, tạo điều kiện và quyết tâm của lãnh đạo Tổng cục Hải quan, khả năng thực hiện thành công VNACCS/VCIS là rất cao.

(Theo hqonline - Tác giả: T.Bình)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Chủ tịch công ty NACCS Nhật Bản cam kết hỗ trợ Hải quan Việt Nam trong việc triển khai dự án

(vnaccs.com) - Ngày 27/8/2013, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc đã có buổi tiếp xã giao ông Toshihiko MIYASAKA - Chủ tịch Công ty NACCS - Nhật Bản.


Tham dự buổi tiếp còn có lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan và thành viên Ban Quản lý dự án VNACCS/VCIS.
Chủ tịch Công ty NACCS Toshihiko MIYASAKA (trái) và Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc tại buổi tiếp xã giao.
VNACCS/VCIS - dự án xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện cơ chế hải quan một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam - là dự án hợp tác song phương lớn nhất từ trước đến nay của ngành Hải quan với Nhật Bản xét về quy mô, tổng vốn đầu tư, mức độ phức tạp về kỹ thuật cũng như số lượng cán bộ được huy động tham gia. Dự án có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, bao gồm tất cả các Cục Hải quan tỉnh, thành phố, cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các Bộ, ngành tham gia cơ chế một cửa hải quan và các bên liên quan khác như ngân hàng, hãng vận tải, giao nhận…
Trong buổi tiếp, Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc hoan nghênh chuyến thăm và làm việc của Chủ tịch Công ty NACCS - Nhật Bản. Đồng chí đề nghị ông Toshihiko MIYASAKA cũng như công ty NACCS tiếp tục hỗ trợ cho Hải quan Việt Nam sau khi dự án VNACCS/VCIS đi vào hoạt động.
Ông Toshihiko MIYASAKA mới được bổ nhiệm làm Chủ tịch công ty NACCS thay cho ông Yoshimoto TAKEO vào ngày 21/6 vừa qua. Ông cho biết đây là dự án quan trọng, mang tính quốc gia và cam kết bản thân ông sẽ cố gắng đem hết kiến thức, kinh nghiệm để hỗ trợ Hải quan Việt Nam trong việc triển khai dự án cũng như quản lý và vận hành khi dự án đi vào hoạt động.
                Ông Toshihiko MIYASAKA tham quan Trung tâm dữ liệu Tổng cục Hải quan.
(Theo TCHQ. Tac gia: Hữu Bình)


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

vnaccs: Sự cần thiết của Trung tâm quản lí, vận hành CNTT hải quan

(vnaccs) - Tổng cục Hải quan vừa trình Bộ Tài chính Đề án triển khai hoạt động của Trung tâm quản lí, vận hành CNTT hải quan. Việc xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm có ý nghĩa hết sức quan trọng để chủ động tiếp nhận, vận hành Hệ thống thông quan tự động (VNACCS) do Nhật Bản viện trợ và đáp ứng được các mục tiêu hiện đại hóa của Hải quan Việt Nam trong thời gian tới.

Kết nối toàn quốc

Những năm gần đây, Hải quan Việt Nam được đánh giá là một trong những đơn vị đi tiên phong trong lĩnh vực hiện đại hóa. Điều này đã góp phần không nhỏ trong việc tạo thuận lợi cho hoạt động giao thương quốc tế của đất nước và đảm bảo yêu cầu quản lí Nhà nước về Hải quan.


Theo Cục Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan (CNTT&TKHQ), đến nay hầu hết các hoạt động nghiệp vụ, quản lí điều hành của ngành Hải quan đã được tin học hóa và hoạt động dựa vào các hệ thống CNTT. Về hạ tầng mạng, hệ thống mạng LAN đã được trang bị cho toàn bộ các cửa khẩu và trụ sở làm việc của cơ quan Hải quan các cấp. Mạng diện rộng của ngành Hải quan đã được kết nối từ Tổng cục đến các cục và chi cục hải quan địa phương (kết nối tất cả 34 cục và hơn 200 chi cục).

Toàn Ngành được trang bị 1.378 máy chủ các loại và hơn 11.000 máy trạm. Các Trung tâm dữ liệu đều được trang bị máy chủ cơ sở dữ liệu có chức năng xử lí cao và hệ thống lưu trữ backup dữ liệu chuyên dụng.

Vấn đề đảm bảo an toàn thông tin; mô hình, kiến trúc hệ thống ứng dụng đều được thực hiện đảm bảo theo quy định.

Về mô hình quản lí, vận hành hệ thống CNTT, đại diện Cục CNTT&TKHQ cho biết, việc quản lí được phân theo 3 khối gồm: cấp Tổng cục, cấp cục, cấp chi cục. Trong đó, ở cấp Tổng cục việc quản lí, vận hành do Cục CNTT&TKHQ đảm nhiệm; cấp cục do Trung tâm dữ liệu & CNTT và một số đơn vị nhỏ do cán bộ CNTT chuyên trách thực hiện; ở chi cục, mỗi đơn vị có từ 1 đến 2 cán bộ CNTT chuyên trách.


Hiện đại nhưng chưa đủ tầm

Mặc dù đã được đầu tư và có những bước tiến lớn nhưng so với yêu cầu thực tiễn và các mục tiêu hiện đại hóa của Ngành, thực trạng quản lí, vận hành hệ thống CNTT còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế. Đặc biệt những vấn đề này nếu không được khẩn trương giải quyết sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc tiếp nhận, vận hành VNACCS.

Theo Cục CNTT&TKHQ, hiện các chương trình ứng dụng của Ngành được triển khai tương đối rộng và phân tán, nên số lượng trang thiết bị, chương trình ứng dụng triển khai nhiều dẫn đến khối lượng công việc quản trị lớn và đầu tư dàn trải. Trong khi đó, yêu cầu với các ứng dụng nghiệp vụ ngày càng cao, việc xử lí hoàn toàn dựa trên máy tính theo xu hướng tích hợp dữ liệu và liên thông toàn quốc, vì vậy mô hình ứng dụng phân tán hiện nay không phù hợp. Bởi mô hình xử lí trong tương lai của ngành Hải quan là xử lí tập trung để không gây ách tắc trong quy trình thủ tục hải quan.

Hiện nay đội ngũ cán bộ CNTT còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn sâu để quản trị, vận hành các hệ thống CNTT trong bối cảnh công tác quản lí nhà nươcớc về Hải quan ngày càng tăng về quy mô, tính phức tạp, sử dụng công nghệ mới, hiện đại để đảm bảo an ninh an toàn của các hệ thống CNTT…

Trong khi đó, để đảm bảo các mục tiêu hiện đại hóa từ nay đến năm 2020, Hải quan Việt Nam sẽ phải quản lí, vận hành nhiều hệ thống CNTT hết sức phức tạp. Đó là các hệ thống CNTT cốt lõi như hệ thống VNACCS; các hệ thống CNTT đang ứng dụng phân tán hiện nay như Hệ thống KT559; hệ thống thanh toán thuế qua ngân hàng (E-Payment); hệ thống CNTT phục vụ thủ tục hải quan điện tử cho loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất; hệ thống CNTT phục vụ công tác trị giá tính thuế; hệ thống CNTT phục vụ quản lí rủi ro; kết nối vào Cổng thông tin một cửa quốc gia (NSW); cung cấp dịch vụ công điện tử.

Tích cực chuẩn bị để tiếp quản, vận hành VNACCS



- Việc xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm quản lí, vận hành CNTT hải quan được kì vọng sẽ giải quyết bài toán quản lí hạ tầng CNTT của ngành Hải quan trong tương lai, đáp ứng yêu cầu điện tử hóa ở mức độ cao hơn của Ngành.


Theo Cục CNTT&TKHQ- đơn vị chủ trì xây dựng Đề án, sau khi Dự án VNACCS được chính thức triển khai, lãnh đạo Bộ Tài chính hết sức quan tâm đến vấn đề làm thế nào để Hải quan Việt Nam tiếp quản, vận hành sử dụng hiệu quả Hệ thống thông quan hiện đại này. Chính vì vậy, lãnh đạo Bộ chỉ đạo Tổng cục Hải quan phải khẩn trương xây dựng đề án liên quan đến Trung tâm dữ liệu.

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế hoạt động hải quan hiện nay, Cục CNTT&TKHQ nhận thấy Trung tâm này không chỉ phục vụ việc vận hành VNACCS mà còn phải vận hành thêm một số hệ thống CNTT hiện có của Ngành. Bởi, do chính sách quản lí có những đặc thù riêng nên hoạt động Hải quan Việt Nam có một số khác biệt so với Hải quan Nhật Bản.

Vì vậy, hiện nay, Hải quan Việt Nam đang vận hành một số hệ thống CNTT khác gồm: Hệ thống KT559; hệ thống thanh toán thuế qua ngân hàng (E-Payment); hệ thống CNTT phục vụ thủ tục hải quan điện tử cho loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất; hệ thống CNTT phục vụ công tác trị giá tính thuế; hệ thống CNTT phục vụ quản lí rủi ro. Khi VNACCS đi vào hoạt động, các hệ thống CNTT vệ tinh nêu trên sẽ được kết nối với hệ thống CNTT của VNACCS.

Ngoài ra, Hải quan Việt Nam còn có hệ thống CNTT kết nối Cổng thông tin Cơ chế một cửa quốc gia và cung cấp dịch vụ công (qua phương thức điện tử). Như vậy, khi đi vào hoạt động, Trung tâm sẽ phải quản lí, vận hành toàn bộ hệ thống CNTT ngành Hải quan, bao gồm cả VNACCS và các hệ thống liên quan

Để vừa đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, vận hành VNACCS đúng theo lịch trình, đồng thời tạo được sự kết nối với các hệ thống CNTT hiện có của Hải quan Việt Nam, việc khẩn trương hoàn thành Trung tâm quản lí, vận hành hệ thống CNTT hải quan là hết sức cần thiết. Đại diện Cục CNTT&TKHQ cho biết, khi đi vào hoạt động Trung tâm chịu trách nhiệm tổ chức quản lí, vận  hành toàn bộ hệ thống CNTT tập trung của Ngành hoạt động thông suốt 24/7 (24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần) đảm bảo an ninh, an toàn, đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, thực hiện thủ tục hải quan điện tử và Cơ chế một cửa quốc gia.

Duy trì hoạt động ổn định của hạ tầng truyền thông, kết nối các đơn vị trong ngành Hải quan với các cơ quan có liên quan. Sự ra đời của một Trung tâm cũng nhằm góp phần tạo nền tảng cho việc chuyển căn bản phương thức quản lí của Ngành theo hướng hiện đại, phù hợp định hướng phát triển của Hải quan Việt Nam và xu hướng phát triển của hải quan các nước trong khu vực và trên thế giới…

Một số mục tiêu cụ thể đối với Trung tâm quản lí, vận hành CNTT hải quan như: Đảm bảo tiếp nhận, vận hành VNACCS và các hệ thống CNTT tập trung ngành Hải quan; đảm bảo tính sẵn sàng và hệ thống hoạt động liên tục; có phương án dự phòng khi có sự cố xảy ra… Hình thành bộ phận riêng để hỗ trợ, giải quyết vướng mắc cho người sử dụng VNACCS; cung cấp dịch vụ công ngành Hải quan mức độ 4 và kết nối, chia sẻ thông tin với bộ, ngành…

Để đạt các mục tiêu trên, Đề án cũng đặt ra các nội dung công việc cụ thể đối với Trung tâm; giải pháp thực hiện. Đặc biệt, Tổng cục Hải quan cũng kiến nghị Bộ Tài chính tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách để Trung tâm vận hành đảm bảo tiến độ, chất lượng.

Giải pháp xây dựng Trung tâm quản lí khoa học, hiệu quả

- Theo Tổng cục Hải quan, để thực hiện tốt đề án về Trung tâm quản lí, vận hành CNTT hải quan phải triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp cơ bản: Tổ chức bộ máy quản lí (của Trung tâm); giải pháp kĩ thuật; nguồn nhân lực; cơ chế tài chính và thuê khoán chuyên môn; mối quan hệ nghiệp vụ với các đơn vị nghiệp vụ.

Về cơ cấu tổ chức, để tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, Trung tâm (tại trụ sở Tổng cục Hải quan) cần quy mô khoảng 5 phòng chuyên môn. Đồng thời chức năng nhiệm vụ của Trung tâm dữ liệu & CNTT của các cục hải quan địa phương cần được sửa đổi, bổ sung để phục vụ kết nối toàn bộ hệ thống CNTT trong Ngành và phù hợp với mô hình xử lí dữ liệu tập trung.

Với giải pháp kĩ thuật, vấn đề này đòi hỏi rất nhiều công việc liên quan. Đó là thiết lập hệ thống giám sát, vận hành hệ thống 24/7. Đầu tư hạ tầng kĩ thuật, cơ sở vật chất, các trang thiết bị máy móc thuộc Trung tâm đảm bảo đủ năng lực xử lí. Nâng cấp mạng diện rộng phù hợp với kiến trúc chung của hạ tầng ngành Tài chính, đảm bảo yêu cầu xử lí tập trung và vận hành 24/7, đảm bảo an toàn, an ninh, thông suốt…
Các giải pháp về nguồn nhân lực được xem là có vai trò then chốt. Theo đó, đội ngũ nhân lực cần được tăng cường lực lượng có chuyên môn sâu để đáp ứng yêu cầu quản lí, vận hành hệ thống CNTT, đặc biệt khi triển khai hệ thống VNACCS/VCIS. Bên cạnh đó, việc tổ chức đào tạo cho lực lượng cán bộ CNTT cũng hết sức quan trọng. Nội dung đào tạo tập trung vào phương pháp quản lí, vận hành hệ thống; quản trị hệ thống phần mềm; sử dụng hệ thống phần mềm; thao tác thiết bị đầu cuối. Để đáp ứng yêu cầu đặt ra, đại diện Cục CNTT&Thống kê Hải quan cho rằng, Bộ Tài chính cần xem xét cho cơ chế tuyển dụng đặc thù riêng với Trung tâm. Một số hình thức được đưa ra như: Luân chuyển từ một số đơn vị nghiệp vụ trong Ngành; hợp đồng vụ việc; hợp đồng dài hạn; tổ chức tuyển dụng.

Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đề xuất Bộ Tài chính giải pháp về cơ chế tài chính và thuê khoán chuyên môn. Trong đó, cơ quan Hải quan trực tiếp thực hiện các công việc chủ chốt như: Quản lí, vận hành Trung tâm; quản trị, giám sát 24/7 về tính trạng hoạt động, an ninh, kết nối truyền dẫn dữ liệu… Ngoài ra, Ngành phải sử dụng các dịch vụ có tính chất định kì liên quan đến việc bảo trì, bảo dưỡng hệ thống. 

Đó là, thuê dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng, bảo hành mở rộng các trang thiết bị kĩ thuật bao gồm: Hệ thống điện, điều hòa, phòng chống cháy nổ, hệ thống an ninh (mạng), máy móc CNTT… Bảo trì, bảo dưỡng, bảo hành mở rộng hệ thống ứng dụng CNTT hải quan như VNACCS/VCIS, Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và các hệ thống CNTT khác. Hỗ trợ kĩ thuật với những công việc cần trình độ cao, chuyên sâu và xử lí các vấn đề kĩ thuật về phần cứng, phần mềm. Những dịch vụ thuê khoán có tính chất đột xuất như: Nâng cấp ứng dụng CNTT để đáp ứng sự thay đổi của chính sách quản lí; khắc phục sự cố kĩ thuật…
Đề án vừa được Tổng cục Hải quan trình Bộ Tài chính cũng đưa ra giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa Trung tâm với các đơn vị nghiệp vụ trong Ngành nhằm cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, tránh trùng lặp trong quá trình thực hiện.

Kinh nghiệm quản lí hệ thống NACCS của Nhật Bản
 
Tại Nhật Bản, cơ quan Hải quan sử dụng hệ thống NACCS và CIS cùng với một số hệ thống vệ tinh khác để thông quan tự động hàng hóa XNK. Để quản lí, vận hành các hệ thống trên, một bộ máy tương ứng được hình thành với ba đơn vị chính là Trung tâm NACCS, Trung tâm Kudan và Văn phòng quản lí thông tin.

Trung tâm điều hành hệ thống thông quan hàng hóa tự động (NACCS)
Việc quản lí và điều hành Hệ NACCS được tập trung về Trung tâm NACCS. Trung tâm NACCS được thành lập vào tháng 5-1977 dưới hình thức một tổ chức thuộc Chính phủ và chuyển thành cơ quan hành chính độc lập vào tháng 10-2003. Đến tháng 10-2008, cơ quan này chính thức được cổ phần hóa, trong đó Nhà nước là cổ đông chi phối (chiếm trên 50%) để đảm bảo quyền kiểm soát của Chính phủ đối với việc bổ nhiệm Ban giám đốc cũng như vận hành toàn bộ hệ thống. 

Việc tư nhân hóa Trung tâm NACCS xuất phát từ đặc điểm là hệ thống NACCS phục vụ cho cả khu vực tư nhân và khu vực công, nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả cung ứng quốc tế và sức cạnh tranh giữa các cảng biển và sân bay.  Cũng từ đặc điểm này mà nhân sự tại đây được phân chia theo tỉ lệ 50/50, nghĩa là một nửa là nhân viên Chính phủ (cán bộ hải quan và một số cán bộ thuộc các cơ quan khác), nửa còn lại đến từ các công ty tư nhân lớn. Hiện Trung tâm NACCS có 107 người (khi mới thành lập có 25 người). Ban lãnh đạo gồm 1 Tổng giám đốc và 3 Giám đốc điều hành. Trung tâm NACCS có 5 phòng.

Các bên tham gia sử dụng và vận hành hệ thống NACCS bao gồm cả khối cơ quan công và khối tư nhân. Về phía các cơ quan Chính phủ có: cơ quan Hải quan; cơ quan quản lí nhập cư và hành khách xuất nhập cảnh; cơ quan kiểm dịch động, thực vật; cơ quan kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm; cơ quan quản lí cảng; cơ quan biên phòng; các văn phòng quản lý thương mại; chính quyền địa phương... Đối với khối tư nhân, các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực logistics, đại lý làm thủ tục hải quan, ngân hàng, thương nhân hoạt động XNK là những đối tượng chính tham gia sử dụng hệ thống.

Hiện nay, Trung tâm NACCS chịu trách nhiệm quản lí hệ thống NACCS và tham gia vào việc phát triển và nâng cấp chương trình và cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận hành hệ thống NACCS. Để thực hiện nhiệm vụ này, Trung tâm NACCS kí hợp đồng với Công ty NTT Data để bảo trì, nâng cấp phát triển hệ thống.
Trung tâm này là đơn vị sự nghiệp có thu. Mọi giao dịch trên hệ thống NACCS đều được tính phí. Phí giao dịch sử dụng hệ thống NACCS chính là ngân sách để duy trì hoạt động của Trung tâm.

Trung tâm Kudan - vận hành, phát triển hệ thống CIS
Trung tâm Kudan là đơn vị thuộc Hải quan Nhật Bản, được thành lập trong bối cảnh tinh giản bộ máy tổ chức ở cấp trung ương và đẩy mạnh phân cấp về địa phương. Trung tâm Kudan được đặt tại Hải quan vùng Tokyo song ít chịu sự chi phối từ Hải quan Tokyo mà chủ yếu duy trì mối quan hệ dưới hình thức báo cáo, trao đổi, tham vấn trong công việc.

Trung tâm Kudan chịu trách nhiệm chính quản lí, vận hành, phát triển và nâng cấp hệ thống CIS (hệ thống thông tin hải quan phục vụ riêng cho mục đích quản lí của cơ quan Hải quan). Ngoài ra, Trung tâm Kudan cũng quản lí một số hệ thống vệ tinh nhỏ như COMTIS (Hệ thống thông tin và thu thuế đối với thư tín quốc tế), ACTIS (Hệ thống thông tin và thu thuế đối với hàng đường không), COMOS (Hệ thống kiểm tra và mạng thông tin hàng đường biển).
Bên cạnh đó, Trung tâm cũng phối hợp với Trung tâm NACCS tham gia quản lí và vận hành hệ thống NACCS ở một mức độ giới hạn, phần lớn liên quan đến nghiệp vụ hải quan như thuế suất, chính sách,…
Nhân sự tại Trung tâm Kudan là cán bộ, công chức hải quan được lựa chọn từ các lĩnh vực nghiệp vụ khác nhau, được đào tạo tại chỗ về kĩ năng quản lí, vận hành hệ thống. Trung tâm Kudan được cơ cấu thành 7 phòng chức năng với trên 60 biên chế.
Trung tâm Kudan kí hợp đồng với các công ty tin học để bảo trì kĩ thuật, hỗ trợ vận hành, nâng cấp phát triển hệ thống.

Văn phòng quản lí thông tin
Là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan Nhật Bản nằm trong Bộ Tài chính, có bộ máy gọn nhẹ với khoảng 12 người. Văn phòng chịu trách nhiệm giám sát tất cả các hệ thống CNTT, bao gồm cả hai trung tâm NACCS và Kudan, mạng thông tin. Văn phòng là nơi đưa ra quyết định về định hướng phát triển, nâng cấp các hệ thống CNTT của hải quan và chịu trách nhiệm về phân bổ ngân sách đầu tư, kiểm tra, giám sát mua sắm đấu thầu các hệ thống CNTT.

Nhìn vào mô hình tổ chức quản lí vận hành NACCS/CIS của Nhật Bản có thể thấy nó được hình thành từ nhu cầu tinh giản bộ máy trung ương và tăng cường sự tham gia của khu vực tư, qua đó nâng cao tính cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ song vẫn đảm bảo sự kiểm soát của Chính phủ đối với các hệ thống.


T.Bình
 


Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Hệ thống một cửa tại Nhật Bản - Quá trình hình thành và phát triển


Ngày 22/03/2012, Bộ Tài chính và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã ký kết dự án “Xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện cơ chế hải quan một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam” . Đây là dự án nhận được sự hỗ trợ từ Nhật Bản với 33 triệu USD dưới dạng viện trợ không hoàn lại nhằm giúp Việt Nam hiện đại hóa hệ thống hải quan. Theo đó, Nhật Bản sẽ chuyển giao Hệ thống Tự động hóa hải quan của Hệ thống một cửa quốc gia Nhật Bản (gọi tắt là NACCS) cho Hải quan Việt Nam. Mục tiêu của Dự án là giúp Việt Nam thực hiện thành công hệ thống một cửa quốc gia - là hệ thống có vai trò then chốt giúp thuận lợi hóa thương mại và đầu tư cũng như tăng cường hiệu quả và hiệu lực của công tác quản lý hải quan.
Hệ thống thông quan hàng hóa tự động của Nhật Bản (Nippon Automated Cargo and Port Consolidated System; gọi tắt là NACCS) được xem là chìa khóa của thành công trong công tác quản lí hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế của Hải quan xứ sở hoa anh đào. Đây cũng được xem là một trong những hệ thống thông quan hiện đại nhất thế giới hiện nay.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu với bạn đọc loạt bài viết giới thiệu về hệ thống này.
Bài 1: Lược sử hình thành Hệ thống một cửa tại Nhật Bản
Từ năm 1978, nhằm đáp ứng sự phát triển của thương mại quốc tế, Nhật Bản đã phát triển hệ thống đầu tiên xử lý các giao dịch hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu theo đường hàng không, được gọi là Air-NACCS.
Air-NACCS được phát triển dựa trên sự hợp tác giữa chính phủ Nhật Bản và các công ty tư nhân nhằm cải thiện thời gian thông quan cho hàng hóa tại sân bay Narita. Song song với hệ thống này, năm 1991, Nhật Bản xây dựng hệ thống thông quan hàng hóa đường biển (Sea-NACCS) giúp công chức hải quan thực hiện thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập cảnh qua đường biển. Năm 1999, hệ thống Sea-NACCS được nâng cấp nhằm tăng cường khả năng quản lý thông tin hàng hóa.
Trong giai đoạn đầu, hệ thống Air-NACCS và Sea-NACCS được xây dựng và hoạt động độc lập, gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý thông tin hàng hóa. Vì vậy, từ phiên bản 5 của Air-NACCS (2010) và phiên bản 3 của Sea-NACCS (2008), hai hệ thống này đã được tích hợp thành một hệ thống duy nhất xử lý các giao dịch xuất nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa và phương tiện vận tải của Nhật Bản.
             Sơ lược thủ tục đối với hàng hóa xuất/nhập khẩu trong hệ thống NACCS
Hệ thống NACCS hiện tại cung cấp chức năng để xử lý các thủ tục liên quan đến nhập khẩu/xuất khẩu với sự tham gia của các bên liên quan bao gồm khu vực tư nhân và các cơ quan chính phủ. Đến tháng 3/2010, Hệ thống NACCS có hơn 8.000 người sử dụng và xử lý khoảng 500 triệu giao dịch mỗi năm. Hiện nay có khoảng 98% hàng hóa xuất nhập khẩu được xử lý qua NACCS. Hệ thống NACCS xử lý tất cả các giao dịch trong thời gian thực theo đúng các bước của quy trình vận chuyển hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu.
NACCS Xuất khẩu
Air: 11 Triệu
Sea: 4 Triệu
Tổng số: 15 Triệu
Phần trăm: 98%

NACCS Nhập khẩu
Air:13 Triệu
Sea:4 Triệu
Tổng số:17 Triệu
Phần trăm:  98%

NACCS Tổng số
Air: 24 Triệu
Sea: 8 Triệu
Tổng số: 32 Triệu
Phần trăm: 98%
(Thống kê năm 2007, Đơn vị: Tờ khai)
            Tỷ lệ hàng hóa và số lượng giao dịch thực hiện thông qua NACCS
Tháng 10/1977, Bộ Tài chính Nhật Bản đã thành lập Trung tâm NACCS, một công ty do chính phủ ủy quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý, vận hành và bảo trì hệ thống này. Cùng với sự phát triển của hệ thống NACCS, yêu cầu quản lý, vận hành, nâng cấp hệ thống cũng thay đổi, kéo theo mô hình Trung tâm NACCS cũng phải thay đổi để đáp ứng các nhu cầu đó. Tháng 10/2003, Trung tâm NACCS chuyển thành một đơn vị quản lý hành chính hợp tác công-tư, tháng 10/2008 thì được tư nhân hóa, chuyển thành công ty cổ phần thuộc sở hữu nhà nước. Việc tư nhân hóa này giúp tăng cường chất lượng dịch vụ và dễ dàng hơn trong việc phát triển các nghiệp vụ mới, đồng thời cho phép Trung tâm NACCS phát triển bắt kịp với sự phát triển của thương mại quốc tế và lĩnh vực logistics.
Trải qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, Nhật Bản nói chung và Trung tâm NACCS nói riêng đã xây dựng thành công một hệ thống xử lý hàng hóa và các nghiệp vụ tại cảng biển, sân bay (Hệ thống NACCS) hiện đại, xử lý được 98% lưu lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu, quá cảnh tại Nhật Bản. Không dừng lại đó, Nhật Bản vẫn đang cố gắng hoàn thiện hơn hệ thống này, với mong muốn biến NACCS thành một môi trường thông tin hỗ trợ đơn giản, thuận lợi và toàn diện tại cảng biển và sân bay.

(Theo website HQVietnam)
Chú ý: Khi đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác xin vui lòng ghi rõ nguồn http://www.vnaccs.com.  Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Phân loại mã số và thuế suất trước khi khai báo trong NACCS

 (VNACCS.COM) Hiện nay, Hải quan Nhật Bản đang áp dụng Hệ thống phân loại hàng hoá trước khi hàng nhập khẩu, Hệ thống này cho phép người nhập khẩu cũng như các bên có liên quan có thể yêu cầu cơ quan Hải quan xác định mã số thuế và thuế suất của hàng hoá nhập khẩu trước khi khai báo hàng nhập khẩu.


Đó là ứng dụng trong Hệ thống NACCS (Nippon Automated Cargo and Port Consolidated System)  của Hải quan Nhật Bản.
Hệ thống phân loại hàng hoá trước khi khai báo hàng nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho người nhập khẩu trong việc tính toán chi phí nhập khẩu một cách chính xác và là căn cứ quan trọng trong việc hoạch định kế hoạch giao nhận hàng hoá và chiến lược tiêu thụ hàng nhập khẩu trên cơ sở thuế suất nhập khẩu hàng hoá đã được biết trước.
Theo quy định của Hải quan Nhật Bản, người nhập khẩu có thể yêu cầu cơ quan Hải quan xác định mã số, thuế suất thông qua hình thức trực tiếp trao đổi với cơ quan Hải quan hoặc bằng hình thức văn bản nhưng Hải quan Nhật Bản khuyến khích người nhập khẩu thực hiện bằng văn bản hoặc bằng hình thức thư điện tử để đảm bảo độ chính xác của thông tin. Một đơn yêu cầu nhà nhập khẩu gửi qua NACCS cũng có giá trị tương đương như một văn bản gửi đến cơ quan Hải quan.
Một yêu cầu bằng văn bản hoặc bằng thư điện tử thoả mãn các điều kiện trong việc phân loại hàng hoá, xác định mã số, thuế suất cho hàng hoá sẽ được cơ quan Hải quan xem xét xác định mã số thuế suất và trả lời cho nhà nhập khẩu bằng văn bản. 
Thông báo xác định mã số và thuế suất do Hải quan cung cấp cho người nhập khẩu qua thư điện tử, bằng văn bản hay qua hệ thống NACCS là tài liệu để Hải quan xác định mã số và thuế suất khi thực tế nhập khẩu hàng và có hiệu lực trong thời hạn 3 năm. Thông báo của cơ quan Hải quan sẽ vô hiệu nếu các quy định pháp luật có liên quan đến mặt hàng đề nghị phân loại đã thay đổi; một trong những nội dung mô tả trong đơn yêu cầu không đúng với thực tế hàng nhập khẩu; Thông báo của Hải quan hết thời hạn.
Không thống nhất với mã số và thuế suất của cơ quan Hải quan người nhập khẩu có quyền gửi đơn khiếu nại đến cơ quan Hải quan bằng văn bản trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của cơ quan Hải quan.
Hệ thống phân loại hàng nhập khẩu trước khai báo là những quy định của Hải quan Nhật nhằm tạo thuận lợi cho người nhập khẩu trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Người nhập khẩu có thể gửi thông tin đến cơ quan Hải quan để yêu cầu phân loại mã số và thuế suất hàng hoá trước khai báo và nhận kết quả trả lời từ cơ quan Hải quan bằng văn bản, email hoặc qua NACCS để làm căn cứ khai báo khi thực tế nhập khẩu hàng hoá.

(Theo Báo Hải quan - HQOnline)

Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc khi đăng tải tại http://www.vnaccs.com.  
 Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

my thoughts

CÓ NHIỀU VIỆC TA CẦN LÀM TRONG ĐỜI, TRUOC HẾT LÀ LÀM 1 NGƯỜI TỐT.
Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Email: vnaccs@gmail.com