Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Hải quan Nhật Bản rất sẵn sàng hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm của mình trong việc triển khai dự án VNACCS

Trong cuộc gặp gần đây giữa lãnh đạo Hải quan 2 nước, phía Nhật bản cho biết dự án VNACCS được Hải quan Nhật Bản xây dựng dựa trên cơ sở kinh nghiệm tích lũy trong quá trình vận hành hệ thống NACCS của Nhật Bản.

 Phía Nhật Bản sẽ chọn ra các chuyên gia tốt nhất cho các nhóm làm việc triển khai dự án VNACCS.  Tuy nhiên để việc chuyển giao dự án này có hiệu quả vào thực tế công tác quản lý hải quan ở Việt Nam, Hải quan Việt Nam phải đóng vai trò chủ thể chính. Hải quan Nhật Bản sẽ hỗ trợ Hải quan Việt Nam trong việc liên kết đào tạo nhằm vận hành ổn định hệ thống khi triển khai và hướng tới sẽ đào tạo thêm các nguồn nhân lực khác.  Phía Nhật cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của dự án VNACCS trong việc thuận lợi thương mại quốc tế và nâng cao năng lực của hải quan Việt Nam. Hải quan Nhật Bản rất sẵn sàng hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm của mình trong việc triển khai dự án VNACCS, qua đó góp phần vào sự phát triển của hải quan Việt Nam.

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Sách về phong thủy : Hoa cảnh ứng dụng phong thủy

Hoa cảnh ứng dụng phong thủy

Tác giả: Nguyễn Kim Dân (Biên Soạn)
Phát hành: 19/08/2009


Phong thủy học là môn học về sinh thái môi trường của con người, cũng là môn học về chọn lọc môi trường; trên thực tế, nó chính là một môn khoa học tự nhiên được tổng hợp từ nhiều môn như: địa cầu vật lý học, thủy văn địa chất học, vũ trụ tinh thể học, khí tượng học, cảnh quan môi trường học, kiến trúc học, sinh thái học và tin tức nhân mạng sinh thể học…

Phần 1 Phần 2 Phần 3 Phần 4 Phần 5

Những điểm mới của Nghị định về thủ tục hải quan điện tử

Nghị định số 87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại (gọi tắt là Nghị định) được ban hành với 3 điểm mới cơ bản liên quan đến: người khai hải quan, hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan và thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho thương mại.
Nghị định được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo sự nhất quán về thủ tục hải quan quy định tại Nghị định và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; đồng thời đảm bảo tính kế thừa những nội dung đang thí điểm thành công của QĐ149/2005/QĐ-TTg và QĐ103/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; sửa đổi, bổ sung các nội dung còn bất cập, loại bỏ một số nội dung không đạt hiệu quả trong quá trình thí điểm; và vẫn đảm bảo tính dự báo trong điều kiện văn bản quy phạm pháp luật luôn được xây dựng và hoàn thiện; đặc biệt đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính hải quan.
Nghị định gồm 3 Chương với 17 Điều, Chương I - Quy định chung; Chương II – Thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại và Chương III – Điều khoản thi hành.
Quy định liên quan đến người khai hải quan
Trước hết, Nghị định (NĐ) yêu cầu về việc đáp ứng các điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin và kỹ năng khai báo hải quan của người khai hải quan. Điều 6 NĐ đề cập “Bộ Tài chính… quy định cụ thể các điều kiện về công nghệ thông tin và kỹ năng khai hải quan điện tử của người khai hải quan điện tử”. Đây là quy định mới, hoàn toàn phù hợp với Luật Giao dịch điện tử.
Quy định như trên dựa trên quan điểm cho rằng hiệu quả của thủ tục hải quan điện tử phụ thuộc vào sự tương tác của hai hệ thống là Hệ thống khai hải quan điện tử của người khai hải quan và Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan của cơ quan Hải quan. Để sự tương tác giữa hai hệ thống luôn ổn định, thông suốt thì không chỉ riêng hệ thống của cơ quan Hải quan mà cả hệ thống của người khai hải quan cũng phải được đầu tư thỏa đáng về mặt kỹ thuật, đảm bảo cho việc truyền, nhận và lưu trữ thông tin trong giao dịch điện tử hải quan.
Yêu cầu về kỹ năng khai báo hải quan dựa trên quan điểm xem xét hiệu quả của thủ tục hải quan điện tử chủ yếu phụ thuộc vào trình độ kỹ năng của hai chủ thể chính là người khai hải quan và công chức hải quan (ngoại trừ các chủ thể khác được coi là bên thứ ba tham gia vào thủ tục hải quan). Ngoài ra quy định trên còn xuất phát từ thực tiễn trong quá trình thí điểm thủ tục hải quan điện tử (2005-2012) đã xảy ra nhiều trường hợp người khai hải quan do không nắm vững kỹ năng cũng như chưa làm chủ được phần mềm khai hải quan dẫn đến tình trạng phải khai lại hay gửi trùng thông tin của một tờ khai nhiều lần đến cơ quan hải quan, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
            Ngoài ra, điều 4, Khoản 2 của NĐ quy định cụ thể về việc sử dụng chữ ký số trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử. Quy định về việc sử dụng chữ ký số khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử đã được quy định tại Thông tư 222/2009/TT-BTC, tuy nhiên chưa nêu cụ thể thế nào là chữ ký số hợp lệ, phạm vi hiệu lực của chữ ký số đã đăng ký với cơ quan hải quan… Để khắc phục những hạn chế đó, NĐ này quy định, khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử, người khai hải quan phải sử dụng chữ ký số hợp lệ - nghĩa là đã được đăng ký với cơ quan Hải quan trước khi sử dụng.
Quy định liên quan đến Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan
            Khoản 2, Điều 17 NĐ quy định nguyên tắc yêu cầu các Bộ, cơ quan quản lý nhà nước phối hợp với cơ quan Hải quan trong việc chuẩn hóa danh mục hàng hóa quản lý chuyên ngành; cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của các cơ quan quản lý chuyên ngành và các đối tượng có liên quan cho cơ quan Hải quan để phục vụ việc đưa ra các quyết định thông quan hàng hóa. Việc chuẩn hóa danh mục hàng hóa quản lý chuyên ngành sẽ tạo điều kiện tăng tính tự động hóa của Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, giảm thiểu các thủ tục hành chính và các thao tác thủ công khi thực hiện kiểm tra, đối chiếu.
            Cơ quan Hải quan là cơ quan ra quyết định cuối cùng về việc thông quan, giải phóng hàng hóa căn cứ vào các quyết định của các cơ quan nhà nước có liên quan; thời gian phân tích và đưa ra các quyết định phụ thuộc vào thời gian cơ quan Hải quan tiếp nhận thông tin. Vì vậy, cần thiết phải quy định trách nhiệm cung cấp và trao đổi thông tin liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của các Bộ, cơ quan quản lý chuyên ngành cho cơ quan Hải quan để tạo điều kiện cắt giảm thủ tục hành chính cho người khai hải quan và giảm thời gian thông quan, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để thực hiện chính thức Cơ chế hải quan một cửa quốc gia do các quy định hiện hành về vấn đề này mới chỉ mang tính chất thí điểm (theo Quyết định 48/2011/QĐ-TTg ngày 31/8/2011).
            Vì vậy, việc quy định các đối tượng nêu trên được phép trao đổi thông tin với cơ quan hải quan thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan khiến thủ tục hải quan điện tử mang đúng nghĩa tự động.
        Quy định liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi thương mại
            Theo quy định tại Điểm b, khoản 1, Điều 4 của NĐ, người khai hải quan điện tử được quyền khai hải quan 24/7 thay vì trong giờ hành chính như đối với thủ tục hải quan thủ công. Đây là những ưu đãi lớn của cơ quan hải quan đối với doanh nghiệp.
Những quy định tại Điều 10 Nghị định cho phép các khâu tiếp nhận, kiểm tra, đăng ký, phân luồng tờ khai hải quan điện tử được tự động hóa thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan. Như vậy, so với giai đoạn thí điểm, thủ tục hải quan điện tử sẽ được tự động hóa thêm 3 khâu là kiểm tra, đăng ký tờ khai và phân luồng tờ khai.
             Trong thời gian thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử theo Thông tư 222, ba khâu nghiệp vụ là kiểm tra, đăng ký tờ khai và phân luồng tờ khai được công chức hải quan thực hiện thủ công thông qua các nghiệp vụ “kiểm tra sơ bộ” và “kiểm tra phân luồng” nên phát sinh nhiều bất cập, có trường hợp bị lợi dụng bởi những mục đích cá nhân, dẫn đến một mặt không đảm bảo tính minh bạch trong việc thực hiện thủ tục hành chính giữa cơ quan hải quan và người khai hải quan, mặt khác không đảm bảo “thủ tục hải quan điện tử” mà chỉ là “khai báo điện tử”. Qua quá trình kiểm tra, đánh giá và phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp thì đối với thủ tục hải quan điện tử, giai đoạn từ khi tiếp nhận thông tin khai hải quan đến khi kết thúc khâu phân luồng tờ khai thường bị kéo dài không đảm bảo theo Tuyên ngôn phục vụ khách hàng của ngành Hải quan.
             Vì vậy, để thủ tục hải quan điện tử được thực hiện theo đúng nghĩa tự động hóa, giảm tối đa sự can thiệp trực tiếp của công chức hải quan vào quy trình thủ tục, cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian thông quan đối với mỗi lô hàng, cần thiết phải xây dựng thủ tục hải quan theo hướng tự động hóa các khâu tiếp nhận, kiểm tra, đăng ký tờ khai và phân luồng tờ khai trên cơ sở thiết lập các tiêu chí rủi ro, đi đôi với việc tăng cường công tác phúc tập tờ khai nhằm kịp thời phát hiện những rủi ro, cảnh báo cho các khâu nghiệp vụ sau hoặc cập nhật thông tin rủi ro vào Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan phục vụ cho quản lý hải quan đối với doanh nghiệp.
               NĐ 87 về thủ tục hải quan điện tử có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013.

(Theo website Hải quan Vietnam)

Năm 2014: triển khai VNACC / VCIS

Theo Tổng cục Hải quan (TCHQ), năm 2014, Hải quan Việt nam sẽ tiếp nhận và kết nối với Hệ thống thông quan điện tử tự động và một cửa quốc gia (VNACCS/VCIS) do Chính phủ Nhật Bản viện trợ. Đây là hệ thống phức tạp và hiện đại đang áp dụng tại quốc gia có hệ thống quản lý Hải quan tiên tiến là Nhật Bản, vì vậy, việc nâng cấp để sẵn sàng kết nối là mục tiêu mà CNTT Hải quan phải đạt bằng được.

Ông Nguyễn Trần Hiệu, Phó Cục trưởng Cục CNTT&Thống kê Hải quan cho biết: việc nâng cấp đồng bộ hướng tới hệ thống tập trung và phân bổ tài nguyên hợp lý là mục tiêu mà CNTT Hải quan phải hướng đến, song song là đẩy mạnh dịch vụ công điện tử lên mức độ 4, các dịch vụ công tại Cổng thông tin điện tử Hải quan đạt mức 3, và đến quý 4 năm 2013, 60% số thuế XNK thu được bằng phương thức điện tử.

(Theo website Hải quan vietnam). 

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

VNACCS/VCIS: 34 triệu USD cho Hệ thống thông quan điện tử theo công nghệ Nhật

- Khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 2,661 tỷ Yên (tương đương 34 triệu USD) của Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam vận hành được Hệ thống thông quan điện tử vào năm 2014.

Dự án có tên  “Xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện Cơ chế hải quan một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam” (gọi tắt là Hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS), trong đó có 2 nội dung quan trọng nhất là Hệ thống thông quan hàng hóa tự động (Viet Nam Automated Cargo Clearance System - VNACCS) và Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin tình báo (VCIS) theo công nghệ của Hải quan Nhật Bản.

Dự án này được Chính phủ Nhật Bản quyết định viện trợ không hoàn lại , có giá trị 2,661 tỷ Yên. Đây là gói viện trợ về lĩnh vực đầu tư CNTT lớn nhất của ngành Hải quan Việt Nam.
Theo thiết kế, Hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS sẽ được kết nối với các hệ thống CNTT khác của Hải quan Việt Nam như: thanh toán điện tử (e-payment), quản lý giá tính thuế (GTT), quản lý và theo dõi nợ thuế (KTT559), thống kê hải quan, quản lý nghiệp vụ hải quan (quản lý rủi ro)…
Với 3 cấu phần chính gồm xây dựng hệ thống phần mềm VNACCS/VCIS, trang bị phần cứng cho Trung tâm dữ liệu hải quan, tư vấn, hỗ trợ quản lí hải quan, Dự án VNACCS/VCIS sẽ được triển khai trong vòng 2 năm, từ tháng 4/2012 đến 3/2014.
Việc tích hợp Hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS với nhiều hệ thống CNTT liên quan tới hoạt động hiện đại hóa hải quan sẽ được thực hiện trong giai đoạn 2012 – 2015 như: Tiếp nhận khai hải quan điện tử (e-Declaration); Thông quan điện tử đối với tàu biển xuất nhập cảnh (e-Manifest); Thanh toán điện tử (e-Payment); Cấp, kiểm tra giấy phép, giấy chứng nhận xuất xứ điện tử (e-C/O, e-License); Quản lý văn bản và điều hành qua mạng (e-Office)….
Đến giai đoạn 2016 – 2020, tại Việt Nam sẽ có thể hiện thực hóa khái niệm U-Customs, nghĩa là thực hiện thủ tục hải quan mọi lúc, mọi nơi thông qua mọi phương tiện. 

(Theo ICTnews) 

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Quy trình khai báo vận chuyển bảo thuế trong VNACCS (Vnaccs.com)

Theo Tiểu Nhóm hàng hóa (Nhóm làm việc về VNACCS/VCIS), đối tượng áp dụng khai báo trong vận chuyển bảo thuế (OLC) gồm: Hàng hóa nước ngoài được vận chuyển giữa cảng mở; cảng hàng không (có hoạt động hải quan); cửa khẩu đường bộ quốc tế; ga đường sắt liên vận quốc tế; bưu điện quốc tế (các nơi có lưu giữ hàng hóa nước ngoài). Phạm vi áp dụng: Thương nhân XNK; đại lí thủ tục hải quan, DN giao nhận; DN kinh doanh dịch vụ kho, bãi, cảng; người vận chuyển quốc tế; ngân hàng và các tổ chức tín dụng; cơ quan Hải quan.

Để áp dụng các nội dung trên sẽ cần một số điều kiện nhất định như rà soát, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật (từ Luật Hải quan đến các văn bản hướng dẫn). Việc sửa đổi, bổ sung nhằm mục đích: Bổ sung thêm các khái niệm “Hàng hóa nước ngoài”; “hàng hóa trong nước”; “cảng mở/cảng đóng”; “hệ thống bảo thuế/khu vực ngoại quan”; “vận chuyển bảo thuế”… Đưa ra quy định về địa điểm được phép lưu giữ hàng hóa nước ngoài là Hệ thống bảo thuế/khu vực thuế quan; quy định về cấp phép vận chuyển cho hàng hóa nước ngoài tại cơ quan Hải quan quản lí hàng hóa đi; quy định cấp phép vận chuyển và sản xuất đối với hàng hóa nước ngoài đưa vào nhà máy bảo thuế.
Ngoài ra, điều kiện để áp dụng quy trình khai báo OLC trong VNACCS cũng cần quy định về giám sát đối với hàng hóa XNK (quy định trách nhiệm của cơ quan dịch vụ cảng/kho/bãi…); quy định trường hợp nào phải nộp bảo lãnh hoặc nộp thuế ngay (đối với hàng hóa OLC). Đặc biệt, theo Tiểu Nhóm hàng hóa, chế tài xử lí các DN vi phạm cần được sửa theo hướng tăng nặng (nhằm mục đích chính là ngăn ngừa, răn đe).
Khai báo OLC có 3 quy trình gồm: Quy trình cơ bản (áp dụng cho khai báo và cấp phép OLC hàng hóa nước ngoài); quy trình kết hợp (giữa khai báo NK) và khai báo OLC; quy trình kết hợp (giữa khai báo XK) và khai báo OLC.
Một số quy trình nghiệp vụ được thực hiện trong quy trình khai báo OLC gồm: Đăng kí trước thông tin khai báo OLC (OLA); lấy ra thông tin đăng kí trước thông tin khai báo OLC (OLB); khai báo OLC đăng kí bởi nghiệp vụ OLA; đăng kí thông tin hoàn thành kiểm tra khai báo OLC (CET) - việc này chỉ cần thiết khi tờ khai OLC bị phân luồng Vàng hoặc Đỏ; phê duyệt sửa thông tin khai OLC (COT); lấy ra thông tin khai OLC đã sửa (COT 11); đăng kí khởi hành vận chuyển bảo thuế (BOA); đăng kí vận chuyển bảo thuế đến đích (BIA); lấy ra đăng kí vận chuyển bảo thuế đến đích (BIA 11); cho phép xem thông tin khai báo và thông tin phê duyệt OLC (ITF) - nghiệp vụ này giúp cán bộ Hải quan có thể tham gia chiều đến khai báo OLC chưa có đăng kí thông tin đến đích sau khoảng thời gian vận chuyển được phê duyệt.

(Theo HQOnline)

my thoughts

CÓ NHIỀU VIỆC TA CẦN LÀM TRONG ĐỜI, TRUOC HẾT LÀ LÀM 1 NGƯỜI TỐT.
Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Email: vnaccs@gmail.com